Đăng Nhập      Đăng ký Quên mật khẩu
Chương Trình Hóa Lớp 10
Câu Hỏi Thường Gặp
Cài Đặt Phần Mềm Hỗ Trợ
Giới Thiệu Gói Bài Học
Hướng Dẫn Học Viên
Thông Tin Người Dùng
Họ tên: Khách viếng thăm
Nickname: guest
Trường: N/A
Quận (huyện): N/A
Tỉnh (Thành phố): N/A
Ngày tham gia: 10/18/2017 7:19:33 AM
Dịch Vụ Hỗ Trợ
Thông Tin về Cadasa
Giới thiệu Chương trình Hóa lớp 10
Bạn cần đăng nhập hệ thống để học hết bài học.
Lệ phí : 6.000 Đồng
Chương II. Bảng TH các NT hóa học & ĐL tuần hoàn
Bài 5. Sự biến đổi TH tính chất của các NTHH - ĐL tuần hoàn
Số phần: 2 phần
Số lần xem tối đa: 6 lần/phần
bai giang hoa hoc 10
Đánh giá bài giảng:

Bài 5. SỰ BIẾN ĐỔI TUẦN HOÀN TÍNH CHẤT CỦA

CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌC - ĐỊNH LUẬT TUẦN HOÀN

Giáo viên: Thầy Nguyễn Phước Hòa Tân

Nội dung bài học:

-       Tính kim loại và tính phi kim biến đổi tuần hoàn theo chiều tăng dần của điện tích hạt nhân.

-       Vậy theo chiều tăng dần của điện tích hat nhân, “hoá trị cao nhất của một nguyên tố đối với oxi, hoá trị đối với hidro cũng biến thiên tuần hoàn.

-       Tính axit và tính bazơ của các oxit và hidroxit biến thiên tuần hoàn theo chiều tăng dần của điện tích hạt nhân.

-       Định luật tuần hoàn:

 Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học là một công trình nghiên cứu tuyệt vời, nó phản ánh khá đầy đủ cấu tạo, bản chất, hoá tính, lí tính, hoá trị….của mọi nguyên tố và các hợp chất quan trọng của chúng.


A. Sự biến đổi tính kim loại - phi kim của các nguyên tố

1. Tính kim loại và tính phi kim

a. Nguyên tố có tính kim loại khi nguyên tử của nguyên tố đó có khả năng cho electron để trở thành ion dương.

- Nguyên tố có tính kim loại càng mạnh khi nguyên tử của nguyên tố đó càng dễ cho electron.

- Các nguyên tử có lớp vỏ ngoài cùng chứa 1, 2 hoặc 3 electron được gọi là những electron tự do nên dễ nhường 1, 2 hay 3 electron để trở thành ion dương.

Thí dụ: Nhóm IA chứa các kim loại kiềm như Li, Na, K….có lớp vỏ ngoài cùng là ns1 nên chúng rất dễ cho 1 electron để trở thành ion dương:

                    M    -  e   →  M+

                    Na   -  e   →  Na+

b. Nguyên tố có tính phi kim khi nguyên tử của nguyên tố đó có khả năng nhận electron để trở thành ion âm.

- Nguyên tố có tính phi kim càng mạnh khi nguyên tử của nguyên tố đó càng dễ nhận electron.

- Các nguyên tử có lớp vỏ ngoài cùng chứa 5, 6, 7 electron thì dễ nhận 3, 2, 1 electron để trở thành ion âm.

Thí dụ: Trong nhóm VIIA có các nguyên tố Halogen có lớp vỏ ngoài cùng là ns2np5 nên chúng dễ nhận 1 electron để trở thành ion âm.

                         Cl+  +   e   →  Cl-

Thật ra không có giới hạn rõ rệt giữa kim loại và phi kim.

2. Sự biến đổi tuần hoàn của tính kim loại và phi kim

- Trong cùng một chu kì, theo chiều tăng dần của điện tích hạt nhân tức là chiều từ trái qua phải, tính kim loại của các nguyên tố giảm dần, đồng thời tính phi kim tăng dần.

-  Trong một nhóm A, theo chiều tăng dần của điện tích hạt nhân tức là chiều từ trên xuống dưới, tính kim loại của các nguyên tố tăng dần, đồng thới tính phi kim giảm dần.

Vậy: Tính kim loại và tính phi kim biến đổi tuần hoàn theo chiều tăng dần của điện tích hạt nhân.

II. Sự biến đổi về hoá trị của các nguyên tố

Nhìn vào bảng tuần hoàn ta nhận thấy:

- Trong cùng một chu kì, oxit cao nhất của các nguyên tố có dạng R2On trong đó n tăng từ 1 đến 7 theo chiều tăng dần của điện tích hạt nhân.

Thí dụ: Ở chu kì 3, theo chiều từ trái qua phải tức là chiều tăng dần của điện tích hạt nhân ta lần lượt có các oxit cao nhất là: Na2O, MgO, Al2O3, SiO2, P2O5, SO3, Cl2O7.

Như thế hoá trị cao nhất của các nguyên tố trong các oxit tăng từ 1 lên 7 và ta có thể phát biểu hơi thiếu chính xác:

Theo chiều tăng dần của điện tích, “hoá trị cao nhất đối với oxi” tăng dần từ 1 lên 7.

- Trong cùng chu kì, hợp chất của các nguyên tố đối với H có dạng RHm với m tăng từ 1 lên 4 rồi giảm từ 4 xuống 1.


Mời bạn nhấn vào link dưới đây để làm bài kiểm tra:

Bài kiểm tra sự biến đổi tuần hoàn của các NTHH - ĐL tuần hoàn - Đề số 1
Ý kiến và trao đổi về bài giảng
Mã xác nhận: