Đăng Nhập      Đăng ký Quên mật khẩu
Kỹ Năng Hướng Nghiệp
Câu Hỏi Thường Gặp
Cài Đặt Phần Mềm Hỗ Trợ
Giới Thiệu Gói Bài Học
Hướng Dẫn Học Viên
Thông Tin Người Dùng
Họ tên: Khách viếng thăm
Nickname: guest
Trường: N/A
Quận (huyện): N/A
Tỉnh (Thành phố): N/A
Ngày tham gia: 10/18/2017 11:39:45 PM
Dịch Vụ Hỗ Trợ
Thông Tin về Cadasa
Giới thiệu chương trình Hướng nghiệp Cadasa
Bạn cần đăng nhập hệ thống để học hết bài học.
Lệ phí : 5.000 Đồng
Tìm hiểu ngành nghề và trường học
Quản trị kinh doanh
Số phần: 10 phần
Số lần xem tối đa: 6 lần/phần
bai giang huong nghiep
Đánh giá bài giảng:

CHƯƠNG TRÌNH HƯỚNG NGHIỆP NHÓM NGÀNH

QUẢN TRỊ KINH DOANH


Nội dung bài giảng sẽ giúp các bạn trả lời các câu hỏi:

1.    Nhóm ngành Quản Trị Kinh Doanh là gì? Yêu cầu? Chuẩn đầu ra?

2.    Trường ĐH – CĐ nào đào tạo ngành Quản Trị Kinh Doanh?

3.    Chương trình đào tạo ngành Quản Trị Kinh Doanh như thế nào?

4.    Chỉ tiêu, điểm chuẩn, tỷ lệ chọi của ngành Quản Trị Kinh Doanh?

5.    Môi trường học tập, sinh hoạt ở ĐH – CĐ?

6.    Mức học phí khi học ngành này?

7.    Cơ hội học bổngviệc làm bán thời gian?

8.    Môi trường làm việc QTKD sau khi ra trường?

9.    Con đường phát triển nghề nghiệp của ngành Quản Trị Kinh Doanh?

10. Nhu cầu nhân lực hiện tại và tương lai?

11. Những yếu tố và kỹ năng cần thiết để có thể thành công trong ngành này?

               

 Chúc các bạn thành công!

Câu hỏi 1

HỎI: Em thì rất thích kinh tế nhưng ba mẹ lại không đồng ý vì ba mẹ nói kinh tế đang có rất nhiều người học, bốn năm nữa ra trường thì rất khó kiếm việc làm, dễ thất nghiệp. Vậy quan niệm này đúng hay sai? Cho em hỏi chuyên ngành quản trị kinh doanh là như thế nào, ra trường có dễ xin việc không?

TRẢ LỜI: Nhu cầu nguồn nhân lực trong lĩnh vực kinh tế - Quản trị kinh doanh phụ thuộc nhiều vào sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta theo từng vùng, miền.

Do vậy, nhu cầu nguồn nhân lực cho ngành nghề này trong thời gian tới cũng chưa thể đáp ứng kịp, như em đã thấy hiện nay có rất nhiều trường ĐH, CĐ tuyển sinh và đào tạo các ngành này. Việc ra trường tìm việc làm dễ hay khó phụ thuộc rất nhiều vào kết quả học tập, kỹ năng, tính thích ứng của sinh viên khi tiếp xúc với các doanh nghiệp, công ty trong quá trình phỏng vấn.

Về câu hỏi chuyên ngành Quản trị kinh doanh là như thế nào, nhà trường sẽ cung cấp cho sinh viên các kiến thức chung về kinh tế quản trị doanh nghiệp, đặc biệt nắm sâu về các kiến thức quản trị học và quản trị các lĩnh vực cụ thể của doanh nghiệp như: quản trị cung ứng, quản trị dự án, quản trị sản xuất, quản trị chất lượng, quản trị nguồn nhân lực, quản trị tài chính, quản trị marketing, quản trị bán hàng. . .

Khi tốt nghiệp, sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh tổng hợp có thể trở thành các chuyên viên làm việc tại các phòng ban chức năng của doanh nghiệp như: phòng kinh doanh, phòng kế hoạch, phòng marketing, phòng tổ chức nhân sự hoặc thư ký giúp việc cho các nhà quản lý các cấp trong bộ máy quản lý của doanh nghiệp, các chuyên viên ở các phòng ban chức năng của doanh nghiệp. Họ cũng có thể trở thành các doanh nhân hay các giám đốc điều hành chuyên nghiệp ở tất cả các loại hình tổ chức kinh doanh trong nước và nước ngoài.


Xem câu trả lời...

Câu hỏi 2

CÂU HỎI: Giáo trình đào tạo các ngành kinh tế ở những trường đào tạo có giống nhau? Chất lượng đào tạo giữa các trường ra sao? So với thế giới thì thế nào?

TRẢ LỜI: Hiện nay các trường đào tạo theo khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh đều phải tuân thủ theo chương trình khung của Bộ Giáo dục và đào tạo, do đó có thể sử dụng giáo trình chung giữa các trường. Việc xem xét chất lượng đào tạo giữa các trường có tốt hay không em cần tham khảo thêm thông tin về đội ngũ giảng viên, bề dày truyền thống của từng trường và các thông tin khác mà theo qui định của Bộ Giáo dục và đào tạo các trường phải tuyên bố 3 công khai trên website của trường mình. Việc so với chất lượng đào tạo với các trường đại học của các nước khác phải tùy vào điều kiện hoàn cảnh của từng nước và khi học ra ứng dụng vào trong thực tế cuộc sống như thế nào thì lại là chuyện khác.

Xem câu trả lời...

Câu hỏi 3

HỎI: Xin cho em biết đánh giá về tương lai cũng như triển vọng của ngành Marketing?

TRẢ LỜI: Ngành Marketing này sẽ cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về marketing và kiến thức chuyên môn để phân tích marketing, hoạch định và thực hiện các kế hoạch, chương trình marketing thuộc lĩnh vực sản xuất, thương mại, du lịch, xuất nhập khẩu, dịch vụ, quản trị thương hiệu... Khi xã hội phát triển, các nhà sản xuất muốn giới thiệu sản phẩm của mình đến người tiêu dùng, tổ chức các kênh phân phối sản phẩm như thế nào,... cần thiết các doanh nghiệp, công ty, tập đoàn phải có bộ phận markeing. Như vậy, xét về lâu dài, khi nền kinh tế phát triển, thì triển vọng của ngành này sẽ không thể thiếu được.

Xem câu trả lời...

Câu hỏi 4

HỎI: Ngành kinh tế, quản lý công và ngành Hệ thống thông tin quản lý học những gì, ra trường thì làm việc ở đâu?

TRẢ LỜI:  Ở các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế (từ Trung ương đến địa phương), chuyên viên kinh tế và quản lý công có thể thực hiện một số công việc chủ yếu như:

Hoạch định phát triển kinh tế: Lập, thiết kế và thẩm định các chiến lược phát triển, quy hoạch phát triển, kế hoạch phát triển, chính sách phát triển, dự án phát triển và chương trình phát triển của toàn bộ nền kinh tế, vùng (địa phương)…

Dự báo phát triển kinh tế: sử dụng các phương pháp, công cụ hỗ trợ đưa ra các kết quả dự báo về định lượng, định tính hay xu thế phát triển kinh tế dài hạn, trung hạn, ngắn hạn

Phân tích kinh tế: mô tả, tổng hợp, so sánh đối chiếu tình hình kinh tế, chiến lược và chính sách kinh tế, phương án tổ chức các hoạt động kinh tế và tổ chức đời sống, tổ chức các quan hệ quốc tế cả trong quá khứ và hiện tại, từ đó đưa ra các đnáh giá và nhận định xác đáng phục vụ cho việc ra quyết định trong thời kỳ tiếp theo, hoặc kịp thời điều chỉnh một số chính sách hiện hành nếu cần.

Tổ chức và điều phối các hoạt động kinh tế: thiết kế mới hoặc hoàn thiện các hệ thống đã có như: hệ thống ra quyết định quản lý, hệ thống thông tin quản lý, chế độ thống kê báo cáo, phương án phối kết hợp giữa các cơ quan tổ chức (liên Bộ, liên ngành, liên vùng) và vận hành hệ thống này hoạt động.

Kiểm tra, kiểm soát và giám sát hoạt động kinh tế: sử dụng các luật, công cụ, phương pháp để theo dõi sự vận động của các hoạt động kinh tế cũng như sự vận hàng của hệ thống tổ chức kinh tế. Qua đó kịp thời phát hiện những khâu vướng mắc, tìm nguyên nhân và kịp thời có phương án, giải pháp khắc phục.

Nghiên cứu, tham mưu, cố vấn hay tư vấn về chính sách kinh tế, phương án tổ chức hệ thống kinh tế và hệ thống quản lý kinh tế theo yêu cầu trong phạm vi thẩm quyền cho phép.

Sinh viên tốt nghiệp ngành Kinh tế vả quản lý công có thể làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ, Ủy ban nhà nước, Ban quản lý các dự án đầu tư, các dự án phát triển kinh tế xã hội, các Ủy ban nhân dân, sở, ban, ngành, phòng từ trung ương tới địa phương về lĩnh vực kinh tế …), hoặc làm việc cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, các tổ chức, chương trình nghiên cứu, hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội; tham gia giải quyết các vấn đề về quy hoạch phát triển thành thị, nông thôn; các hoạt động công ích, các đoàn thể xã hội, hội nghề nghiệp, các ngành hành chính sự nghiệp, dịch vụ công (giáo dục, y tế, thể dục thể thao, quản lý đô thị, dịch vụ công cộng, giao thông vận tải, thương mại...)

Xem câu trả lời...

Câu hỏi 5

HỎI: Xin cho em biết rõ hơn về ngành Quản trị du lịch.

TRẢ LỜI: Chuyên ngành QTKD Du lịch đào tạo Cử nhân kinh tế có kiến thức nền tảng về quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh, đồng thời có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực kinh tế du lịch, quản trị kinh doanh du lịch và khách sạn, cũng như trình độ thông thạo ngoại ngữ.

Sau khi tốt nghiệp sinh viên có thể công tác tại các doanh nghiệp du lịch (hãng du lịch và lữ hành, khách sạn, nhà hàng, khu du lịch và vui chơi giải trí liên hợp..), các cơ quan quản lý du lịch nhà nước (Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch..) và các tổ chức đào tạo, nghiên cứu du lịch.

Xem câu trả lời...

Câu hỏi 6

HỎI: Giữa quản trị kinh doanh và kế toán kiểm toán thì ngành nào ra dễ kiếm việc làm hơn?

TRẢ LỜI: Cơ hội việc làm của người lao động phụ thuộc vào năng lực nghề nghiệp của mỗi người. Năng lực nghề nghiệp là sự tổng hợp của kiến thức (kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức xả hội), kỹ năng, kinh nghiệm, các mối quan hệ xã hội, thái độ công việc, giá trị sống của mỗi người. 

Sẽ tốt hơn nếu bạn bắt đầu nhận định của bản thân về điều bạn thực sự muốn chứ không phải dựa vào "thị trường việc làm"  và nhóm nghề đang "hot". Nếu không bạn có thể rơi vào hai sai lầm : một là,  nhóm ngành nghề đang "hot"  trong thị trường lao động  hiện giờ sẽ không còn "hot" khi bạn ra trường vào 4 năm sau ; hai là, ngành nghề đang hot chưa chắc là phù hợp với sở thích, năng lực, điều kiện của bạn.

Xem câu trả lời...

Câu hỏi 7

HỎI: Em rất muốn làm chủ doanh nghiệp nên rất quan tâm đến ngành tài chính, kinh tế. Xin hỏi các thầy em có thể học trường nào, ngành gì để có thể có kỹ năng và kiến thức xây dựng và quản lý doanh nghiệp như kỹ năng lãnh đạo, quản lý, giao tiếp, thuyết trình... Xin chân thành cảm ơn.

TRẢ LỜI: Với ước mơ nghề nghiệp là trở thành chủ doanh nghiệp thì em có thể chọn ngành quản trị kinh doanh tổng hợp để theo học.ngành quản trị kinh doanh tổng hợp đào tạo những nhà quản lý, quản trị  kinh doanh nắm vững các kiến thức về chức năng, quá trình kinh doanh và quản trị ở các doanh nghiệp, có kỹ năng nghề nghiệp cơ bản để vận dụng trong kinh doanh nói chung và thực hành tốt trong một số công việc chuyên môn thuộc lĩnh vực đào tạo. Có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo khi ra các quyết định kinh doanh, có khả năng tự học tập để thích ứng với môi trường kinh doanh trong điều kiện hội nhập quốc tế.các tố chất và kỹ năng cần thiết:

-  Có khả năng giao tiếp, tư duy logic

-  Có tính mạo hiểm, quyết đoán

-  Sáng tạo và đổi mới, tầm nhìn xa trông rộng

-  Có năng lực tổ chức và quản lý, tự tin, biết cách khắc phục rủi ro

-  Có đạo đức kinh doanh

-  Kiến thức tự nhiên và xã hội vững vàng

Xem câu trả lời...

Câu hỏi 8

HỎI: Hiện nay ngành quản trị kinh doanh có dễ xin việc làm? Giữa ngành này và ngành Tài chính ngân hàng ngành nào có cơ hội việc làm hơn? Để theo học ngành kinh tế thì cần có những tố chất gì để tìm công việc tốt?

TRẢ LỜI:  Học tập để mai này có một việc làm tốt là yêu cầu rất chính đáng của người học, đồng thời tổ chức quá trình đào tạo như thế nào để sinh viên có việc làm, để sản phẩm đào tạo có thể tham gia tốt vào thị trường lao động cũng là nghĩa vụ của các trường đối với sinh viên của mình.

Cơ hội việc làm sau khi ra trường phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có nhu cầu xã hội về ngành đào tạo cụ thể, có sự phấn đấu rèn luyện của sinh viên và sự hỗ trợ của nhà trường đối với sinh viên tốt nghiệp. Cơ hội việc làm của các ngành trên là khá cao. Đế học tốt các ngành kinh tế, ví dụ như QTKD, bạn chú ý đến các yếu yếu tố như:

- Cần có kiến thức cơ bản về kinh tế - xã hội. Kiến thức chung này sẽ giúp cho những nhà quản trị tương lai có cái nhìn tổng thể bức tranh kinh tế - xã hội, từ đó có những quyết sách lớn cho sự phát triển của doanh nghiệp trong ngắn hạn và trong dài hạn. Đặc biệt, các hiểu biết về chính sách, kiến thức về pháp luật là hành trang không thể thiếu hằm phát triển doanh nghiệp đúng hướng, đúng pháp luật, đúng chiến lược đã vạch ra.

- Kiến thức chuyên môn về lĩnh vực nghề nghiệp là rất cần, đặc biệt là khả năng quản lý, tiếp nhận và xử lý những thông tin vốn rất đa dạng, phong phú, có khi những thông tin này trái ngược nhau, rất khó xử lý. Có kiến thức chuyên môn để có đủ bản lĩnh trong tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp.

- Yếu tố nhạy bén trong giải quyết các tình huống phát sinh, biết tận dụng các cơ hội trong kinh doanh, biến cơ hội thành kết quả cụ thể là một vấn đề cực kỳ quan trọng trong những tốt chất của người quản lý. Đặc biệt phải có đủ nhẫn nại, chịu đựng cần thiết để vượt qua những giai đoạn khó khăn chung của đất nước, của doanh nghiệp, nhất là trong giai đoạn suy thoái, khủng hoảng, thách thức cần phải kiên trì để vượt qua.

- Có hoài bão và cũng biết chấp nhận rủi ro. Không phải lúc nào cũng thuận lợi, do đó quản trị rủi ro là rất cần thiết.

- Có sức khỏe tốt đủ để chịu đựng cường độ làm việc cao, áp lực cạnh tranh thường xuyên.

- Có đạo đức trong sản xuất, kinh doanh, biết trách nhiệm của mình đối với doanh nghiệp và với cộng đồng.

Xem câu trả lời...

Trang: 1 /2
Chủ đề 1

Ngành QTKD đòi hỏi ở người học những tố chất gì ?

Để hiểu thấu những đòi hỏi của ngành quản trị kinh doanh (QTKD) đối với người học, cần có một tầm nhìn xa: thấy trước những đòi hỏi của ngành đó về mặt tố chất của người hành nghề QTKD.

Tố chất cá nhân tồn tại ở tâm thức, có cơ sở vật chất từ huyết thống và được thể hiện bằng nội lực nơi một con người. Nó được đặc trưng bởi hai phẩm chất cơ bản: tính cách và năng lực. Và, trong hầu hết các dạng của tố chất,năng lực liên kết chặt chẽ với tính cách, trở thành những "tố chất kép".

Nhiều công trình nghiên cứu mới nhất về nghề nghiệp QTKD (thông qua những gương thành đạt của các doanh nhân ở trong và ngoài nước) đã chỉ ra 15 "tố chất kép", đó là:

1. Biết định hướng chiến lược chính xác và bền vững, cả khi có cạnh tranh gay gắt.

2. Biết dự báo môi trường thương mại và phát triển kinh doanh trong những điều kiện đối đầu với mọi thử thách.

3. Nhạy bén nắm bắt và xử lý mọi thông tin liên quan, nhất là thông tin kinh tế xã hội và đầu tư phát triển.

4. Biết tổ chức công việc một cách khoa học, đặt công việc của cá nhân trong hệ thống kế hoạch chung.

5. Có kỹ năng giao tiếp và ứng xử linh hoạt trên cơ sở nâng cao sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa cá nhân, đơn vị và phía đối tác.

6. Biết công nhận và khích lệ các giá trị và thành tựu của người khác, dù giá trị đó là của người dưới quyền.

7. Biết lắng nghe và thấu hiểu, tránh nói nhiều và nói không đúng chỗ. Chỉ nên nói sau khi đã có đủ thông tin chắc chắn.

8. Có kỹ năng tư vấn và truyền thông về nghiệp vụ kinh tế và cung cách làm việc cho cộng sự khi cần thiết.

9. Biết im lặng đúng lúc và cũng biết nói thích hợp. "Im lặng là vàng, nhưng lời nói thích hợp lại là kim cương".

10. Biết ghi nhận và suy ngẫm trước những khác biệt trong ý nghĩ của người khác, từ đó soi rọi lại những ý tưởng của mình trong doanh nghiệp.

11. Biết chủ động thích nghi nhanh với các đổi thay trong môi trường kinh doanh để tồn tại và phát triển.

12. Biết linh hoạt (nhưng không tùy tiện) thay đổi quyết định khi thấy thật cần thiết vì lợi ích lâu dài của kinh doanh.

13. Biết xử lý căng thẳng và tự giải tỏa được stress khi phải đối đầu quyết liệt với mọi thử thách trong kinh doanh.

14. Luôn nhạy bén cập nhật những thông tin mới về tri thức tổng quát, kinh tế thương mại và luật lệ kinh doanh.

15. Mạnh về sức khoẻ tinh thần. Dám lãnh trách nhiệm khi bị sai sót. Chịu sửa sai và biết cải thiện khi lầm lỡ.

.... Với mục đích học để hành, từ những đòi hỏi khách quan của việc hành nghề QTKD (qua 15 tố chất kép nói trên), có thể suy ngược để thấy những tố chất kép sau đây cần cho việc học nghề QTKD:

A. Có ý thức định hướng chính xác và vừa sức trong việc theo đuổi nguyện vọng dấn thân vào lĩnh vực QTKD, lấy đó làm mục tiêu cho sự nghiệp suốt đời. Trước mắt là học để chiếm lĩnh kiến thức về QTKD.

B. Có ý thức vận dụng, phân tích và triển khai những tri thức kinh tế tổng quát vào từng trường hợp cụ thể trong kinh doanh, cọ xát với thực tế, lấy thực tế soi sáng và bổ sung cho lý luận về QTKD.

C. Kết hợp chặt chẽ giữa tư duy lý luận và tư duy thực tiễn, tư duy khoa học và tư duy kinh tế, tư duy lôgic và tư duy sáng tạo trong quá trình học tập, nghiên cứu và ứng dụng khi giải quyết các vấn đề trong thực tiễn kinh doanh.

D. Không ngừng tiếp cận thông tin mới trong lĩnh vực kinh tế và QTKD, học cách thích nghi trong môi trường kinh doanh trên cơ sở có phân tích và sàng lọc từ việc cập nhật thông tin.

E. Biết phân tích tình huống để tìm cách phát triển (hoặc dừng lại) các mối quan hệ hợp tác kinh tế, giao tiếp ứng xử trong kinh doanh trên cơ sở tôn trọng các giá trị nhân bản, vì lợi ích chung.

oOo

Bên cạnh 5 tố chất kép cần cho việc học QTKD, cần nhận thức rõ 3 điều sau đây :

Đừng chỉ nhìn QTKD dưới góc độ kinh tế. Ít ra, phải nhìn nó dưới bốn góc độ chính: Kinh tế, Khoa học, Xã hội và Nhân văn. Do đó, học và làm kinh tế phải am hiểu những kiến thức tổng quát.

Trong các tố chất về năng lực, ngày nay, đi vào nền kinh tri thức, người ta không chỉ coi trọng kiến thức, còn rất coi trọng kỹ năng. Kiến thức và kỹ năng được gọi chung là tri thức (hiểu rõ và biết làm).

Có 2 mảng tri thức căn bản mà lĩnh vực QTKD đòi hỏi : 1- Tri thức về chuyên môn và nghiệp vụ kinh tế, nhất là trong doanh nghiệp. 2- Tri thức tổng quát về chính trị xã hội, khoa học kỹ thuật, môi trường sinh thái.

Nhiều người lầm tưởng rằng học ngành QTKD là để được đào tạo làm giám đốc doanh nghiệp. Có thành giám đốc hay không, đó là chuyện về sau (khi đã hành nghề kinh doanh, qua những thực tế trưởng thành), không là mục tiêu đào tạo của ngành QTKD. Chữ "quản trị" ở đây được hiểu là có một tầm nhìn chiến lược, bao quát (mang tính khoa học và tính hệ thống) trong một guồng máy kinh tế. Đặc trưng của tầm nhìn đó là những hiểu biết về thương trường và mua bán, về đồng vốn và tiếp thị, về đầu tư và hạch toán, về nhân lực và điều hành,... nghĩa là, trước hết phải có "đầu óc" của một doanh nhân. Doanh nhân đó có thể ở vị trí là người đứng bán hoặc người giao hàng, người kế toán hay người tiếp thị, người quản lý hay một nhân viên ...

Quang Dương

Nhà tư vấn Hướng nghiệp

http://tuvanhuongnghiep.vn

Xem chi tiết...

Chủ đề 2

Nghề PR: Thu nhập cao nhưng nhiều áp lực

Mấy năm gần đây, nghề PR (hay còn gọi là quan hệ công chúng) ngày càng trở thành lựa chọn của nhiều học sinh khi đăng ký hồ sơ thi đại học. Là một ngành mới, chương trình đào tạo ngành này cũng rất mới mẻ với đa số giờ học mang tính thực hành.

Học viện Báo chí và Tuyên truyền cũng đã mở chuyên khoa ngành đào tạo chính thức ngành Quan hệ công chúng từ năm 2007 và ngay lập tức đây trở thành khoa “hot” nhất trường với điểm chuẩn đầu vào thuộc hạng top.

Nghề PR cần những tố chất gì

PR là một ngành mang tính sáng tạo cao và hầu như không có một khuôn khổ nhất định vì vậy thầy cô giáo trên giảng đường chỉ đóng vai trò là những người đồng hành giúp các sinh viên tự tin và phát huy tính sáng tạo của mình.


Đằng sau những sự kiện như thế này là sự góp sức không nhỏ của các nhân viên PR

Để trở thành một PR giỏi, yếu tố đầu tiên chính là sự tự tin. PR là nghề yêu cầu tiếp xúc nhiều, bởi vậy yếu tố tự tin chính là điểm mạnh giúp các PR gây được ấn tượng đồng thời thuyết phục được khách hàng. Như vậy cũng có nghĩa nhân viên PR luôn luôn phải biết mềm dẻo và linh hoạt trong khi sử lý công việc. Dám bầy tỏ ý kiến của mình nhưng cũng đồng thời phải biết thuyết phục người khác – đó chính là yếu tố thành công của mỗi chiến dịch PR.

Yếu tố thứ hai – cũng chính là yếu tốt thiết yếu – đó là khả năng lập kế hoạch một cách khoa học. Công việc của một nhân viên PR thường rất nhiều và rất đa dạng, từ những việc làm báo cáo hàng ngày, chuẩn bị tài liệu họp báo cho tới việc xây dựng hẳn một chương trình quảng bá thương hiệu, một cuộc họp báo hay một cuộc hội thảo khách hàng. Nếu không lập được kế hoạch làm việc cho bản thân một cách khoa học thì công việc sẽ ùn tắc, chất thành núi. Đây cũng chính là lý do vì sao các bạn trẻ mới vào nghề thường phải làm việc 12 tiếng một ngày mà vẫn chưa hết việc.

Là PR cũng đồng nghĩa là người chịu trách nhiệm chính cho hình ảnh của một hãng hay một công ty vì vậy yêu cầu của nghề này là cực kì khắt khe. Chỉ những người vô cùng kiên nhẫn mới chịu được áp lực của nghề “làm dâu trăm họ” này.

Một yêu cầu bất thành văn của các PR đó là trình độ ngoại ngữ tốt. Hầu hết công việc của PR đều là tiếp xúc với các khách hàng nước ngoài hoặc các chuyên gia nước ngoài vì hiện tại ở Việt Nam những người có kinh nghiệm trong ngành này vẫn còn ít. Các cuộc thi đầu vào cho nhân viên PR bao giờ cũng có vòng kiểm tra ngoại ngữ khá khắt khe. 

Có nhiều ứng viên đã qua được hết kiểm tra trắc nghiệm và phỏng vấn nhưng lại trượt ở vòng kiểm tra ngoại ngữ vì yêu cầu quá cao. Lại có những người đã được nhận vào làm nhưng cũng phải bỏ cuộc sau vài tháng vì không có ngoại ngữ trong nghề như người ra trận mà không có súng.

Thu nhập cao nhưng nhiều áp lực

Trong xu thế cạnh tranh thị trường, nhu cầu quảng cáo và truyền thông của các doanh nghiệp ngày càng lớn nên nhu cầu tuyển dụng trên thị trường PR cũng rất sôi động, nên cơ hội nghề nghiệp cũng mở rộng hơn.

PR là một trong những nghề được đánh giá là có thu nhập cao. Tại Việt Nam, thu nhập trung bình cho các PR mới ra trường là từ 200 tới 400USD/tháng – một mức khá cao so với các ngành nghề khác.

Nghề PR cũng mang lại rất nhiều cơ hội tiếp xúc, đặc biệt là với giới báo chí hay cả những người nổi tiếng. Chính sức lôi cuốn của những PR xinh đẹp, lộng lẫy trong những bộ quần áo đẹp có mặt tại các sự kiện nổi bật với những ngôi sao màn ảnh là động lực khiến nhiều bạn trẻ chọn nghề này. Chính xác PR là một nghề có nhiều cơ hội được đi đây đó, ra nước ngoài tác nghiệp và tiếp xúc với nhiều người thú vị.

Tuy nhiên, nghề này cũng có sức ép rất lớn. Ngân Tuyết – PR của khách sạn Fortuna – đã trải qua một thời gian 6 tháng đầu tiên shock với nghề “trong mơ”. Tốt nghiệp loại giỏi ĐH Ngoại ngữ, có kinh nghiệm hoạt động đoàn đội từ những năm cấp 3, rất tự tin vào khả năng tổ chức của mình, thêm điểm cộng về ngoại hình, Tuyết vô cùng hào hứng bước chân vào nghiệp PR.

Sau 1 tháng đầu thử việc, Tuyết thực sự choáng về khối lượng công việc khổng lồ của một PR khách sạn, không chỉ nhiều việc mà mỗi việc Tuyết đều phải làm đi làm lại không biết bao nhiêu lần mới vừa lòng giám đốc.

Mặc dù rất tự tin vào khả năng ngoại ngữ nhưng Tuyết liên tục bị chê là dung tiếng Anh kiểu Việt Nam bởi đa số nhân viên ở đây đều tốt nghiệp đại học nước ngoài. 9h tối mới bắt đầu rời khách sạn về nhà, Tuyết lại tiếp tục mang việc về làm tới 11h đêm.

Nhiều bạn trẻ trước khi bước chân vào nghề PR đã không lường trước được sự khó khăn của nghề này mà chỉ nhìn thấy trước mắt sự lung linh của cái tên “tổ chức sự kiện”, "quan hệ công chúng" nên đã sớm bỏ cuộc khi phải đối mặt với những gian nan đầu tiên trong nghề.

Theo Vương Linh - VnMedia.vn

Xem chi tiết...

Chủ đề 3

Nghiên cứu và khảo sát thị trường - Nghề chắt lọc thông tin thị trường

Tại sao chỉ thay đổi cách đóng gói bao bì mà có thể tăng doanh số đến 50%? Và tại sao chỉ thay đổi mùi vị cho phù hợp với thị hiếu khách hàng (KH) có thể làm tăng lợi nhuận đến hàng triệu USD? Tại sao một ý tưởng có thể thành công ở Nhật Bản nhưng lại thất bại thảm hại ở Đài Loan, một thương hiệu có thể bán rất chạy ở thành phố này nhưng lại nằm ế ẩm trong các cửa hàng ở một thành phố cách đó không xa?

Để có được câu trả lời cho những câu hỏi trên chúng ta sẽ làm quen với một nghề còn khá mới ở Việt Nam đó là nghề Nghiên cứu và Khảo sát thị trường (NC&KSTT).

"Chắc không ít người cho rằng công việc của người nghiên cứu thị trường thật khô khan với những bảng biểu và dãy số câm nín, nhưng với chúng tôi - những người đã sống và trải nghiệm với nghề - nghiên cứu thị trường đó là một nghệ thuật" - Richard Burrage - GĐ Điều hành Cty nghiên cứu thị trường Cimigo chia sẻ.

Tiềm năng của nghề NC&KSTT

Đối với các doanh nghiệp, trước khi quyết định thâm nhập một thị trường, tung ra một sản phẩm (SP) mới, hoặc thực hiện một chiến dịch quảng bá truyền thông, hay quyết định điều chỉnh một trong các yếu tố chiêu thị như tăng giảm giá, thay đổi bao bì SP, tái định vị...họ đều thực hiện NC&KSTT trước khi xây dựng kế hoạch chi tiết.

Hiện nay, càng ngày càng nhiều công ty nghiên cứu thị trường ra đời và hoạt động. Vai trò của công tác nghiên cứu thị trường đã và đang được khẳng định. Công việc này nhanh chóng lọt vào tầm ngắm của nhiều sinh viên. Họ trở thành những người có đầy đủ tố chất để làm tốt vai trò là nhân viên nghiên cứu thị trường.

Cơ hội việc làm của nghề NC&KSTT sẽ tăng trưởng ở mức cao do tính cạnh tranh của nền kinh tế ngày càng gay gắt và sự toàn cầu hoá trong kinh doanh và tiêu thụ. Mức tăng trưởng cơ hội việc làm trong 10 năm tới sẽ là 19.6%, tạo thêm rất nhiều chỗ làm mới.

Thế nào là NC&KSTT?

Do trong marketing hiện đại, mọi quyết định đều bắt nguồn từ yêu cầu của thị trường, nên có thể nói nghiên cứu thị trường là động tác đầu tiên trong qui trình marketing.

NC&KHTT là một nghiệp vụ vô cùng quan trọng, nếu công tác nghiên cứu thị trường được làm tốt, nó sẽ cung cấp đầy đủ thông tin chính xác để giúp người làm marketing đưa ra một chiến lược phù hợp và do đó mang lại hiệu quả cao. Ngược lại, nếu công tác nghiên cứu thị trường thu thập về những thông tin không chính xác, không phản ảnh đúng tình hình thực tế thị trường, và do không dựa trên cơ sở thông tin vững chắc nên quyết định được đưa ra sẽ không sát với thực tế, dẫn đến hoạt động marketing sẽ không hiệu quả, lãng phí nhân vật lực.

Thực ra, nghiên cứu thị trường không khác với nghề báo nhiều cho lắm. Câu chuyện được viết ra phải được dựa trên sự thấu hiểu các vấn đề của KH. Phải quan sát, phải lắng nghe và nói chuyện với KH để hiểu được hết động lực của họ. Sau đó, phải phân tích và mổ xẻ những gì được nghe và được thấy. Và cuối cùng, phải đưa ra được những lời khuyên có lợi nhất cho KH.

Tại sao cần NC&KSTT?

Điều cơ bản nhất quyết định sự thành công của một SP là sự chấp nhận của người mua SP hoặc sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ. Làm thế nào biết được KH có thích hay không thích, chấp nhận hay không chấp nhận? Chỉ có cách duy nhất, chính xác nhất và cũng là một kỹ thuật xưa như trái đất là hỏi chính KH người được cho là sẽ mua SP, hoặc/và người dù không trực tiếp mua nhưng có ảnh hưởng tác động đến quyết định mua SP. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, kỹ thuật nghiên cứu thị trường ngày càng được phát triển tinh vi hơn, người ta tranh thủ mọi cơ hội để thu thập thông tin KH, thị trường.

Thực hiện khảo sát là phương pháp quen thuộc để NC&KSTT. Các kết quả khảo sát sẽ là cơ sở để doanh nghiệp xây dựng chiến lược và chiến thuật tiếp thị. Có hai hình thức nghiên cứu thị trường là định tính và định lượng:

- Nghiên cứu định tính:

+ Tìm hiểu động cơ, những yếu tố thúc đẩy

+ Ai? Cái gì? Ở đâu? Khi nào? Bằng cách nào? Tại sao?

+ Dựa trên số lượng nhỏ

- Nghiên cứu định lượng:

+ Đo lường

+ Phân khúc và so sánh

+ Dựa trên số lượng lớn và nội dung phỏng vấn được sắp xếp có chủ ý

Công việc của một nhân viên NC&KSTT

Thu thập số liệu thống kê về các đối thủ cạnh tranh, nghiên cứu giá cả, doanh thu và các phương pháp tiếp thị và phân phối, phân tích doanh thu quá khứ để dự đoán doanh thu tương lai, phân tích doanh số bán hàng trong quá khứ để dự đoán việc bán hàng trong tương lai.

Thiết lập các phương pháp và thủ tục thu thập thông tin, tổ chức khảo sát thị trường bằng điện thoại, thư, internet để ước đoán sở thích của KH. Bằng phỏng vấn cá nhân, đi đến từng nhà, chủ trì những cuộc thảo luận nhóm trọng tâm, hoặc thiết lập trạm nghiên cứu trong những khu vực công cộng như trung tâm mua sắm lớn. Đưa ra các kết luận và đề xuất về chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp dựa trên các kết quả nghiên cứu thị trường.

Nơi làm việc của nhân viên NC&KSTT là các văn phòng, và cũng thường đi ra ngoài để tìm hiểu ý kiến KH, phần nhiều là làm việc theo nhóm. Chỗ làm thuận lợi nhất cho chuyên viên nghiên cứu thị trường, về cả cơ hội thăng tiến lẫn lương bổng, là các hãng tư vấn kinh doanh và hãng nghiên cứu thị trường.

Những điều kiện giúp bạn thành công trong nghề NC&KSTT

Phần lớn thời gian của việc nghiên cứu thị trường tiêu tốn vào việc phân tích dữ liệu một cách tỉ mỉ, chính xác, vì vậy những người làm công việc này phải có khả năng tập trung cao, chú ý đến chi tiết và tỉ mỉ.
Sự kiên trì là hết sức cần thiết bởi vì công việc này phải trải qua nhiều giờ nghiên cứu độc lập và giải quyết vấn đề. Cùng lúc đó còn phải làm việc tốt với những nhân viên khác. Thông thường, phải giám sát các cuộc phỏng vấn của rất nhiều cá nhân.

Các kỹ năng về giao tiếp cũng quan trọng bởi vì các nhà nghiên cứu phải có khả năng trình bày những khám phá của họ một cách rõ ràng chính xác cả bằng miệng và viết.

Có tinh thần học hỏi cao vì ngoài những kiến thức kỹ năng cần thiết của chuyên ngành về kinh doanh, tiếp thị, hành vi KH...còn phải có những kiến thức rộng về nhiều lĩnh vực khác. Các nhân viên nghiên cứu thị trường triển vọng nên học thêm những khóa học khác về khoa học xã hội bao gồm kinh tế học, tâm lý học, tiếng Anh, xã hội học, nhân học. Bởi vì tầm quan trọng của những kỹ năng về lượng đối với ngành này nên những khóa học về toán học, thống kê học, thiết kế phương thức lấy mẫu khảo sát và khoa học máy tính là cực kỳ hữu ích.

Nghiên cứu thị trường là một nghề khó và thách thức hơn cả marketing, bán hàng, thậm chí cả kế toán. Áp lực phải thành công của KH cũng sẽ là áp lực công việc của bạn. Đôi khi là áp lực về thời gian, về tính cách, hay động lực kinh doanh của mỗi KH. Nhưng chính con người và động lực của họ sẽ mê hoặc bạn. Đây là một nghề đòi hỏi rất khắt khe -  vì khi đã ra trận, bạn không có lựa chọn nào khác ngoài chiến thắng!

Học NC&KSTT ở đâu?

Hiện nay ngành Nghiên cứu thị trường ở nước ta vẫn được biết đến như là một môn học của ngành Marketing, vì vậy, bạn có thể học Nghiên cứu thị trường ở các trường Đại học có chuyên ngành liên quan

Như Tâm tổng hợp (hieuhoc)

Xem chi tiết...

Ý kiến và trao đổi về bài giảng
Mã xác nhận: