Đăng Nhập      Đăng ký Quên mật khẩu
Kỹ Năng Hướng Nghiệp
Câu Hỏi Thường Gặp
Cài Đặt Phần Mềm Hỗ Trợ
Giới Thiệu Gói Bài Học
Hướng Dẫn Học Viên
Thông Tin Người Dùng
Họ tên: Khách viếng thăm
Nickname: guest
Trường: N/A
Quận (huyện): N/A
Tỉnh (Thành phố): N/A
Ngày tham gia: 3/25/2017 10:33:13 PM
Dịch Vụ Hỗ Trợ
Thông Tin về Cadasa
Giới thiệu chương trình Hướng nghiệp Cadasa
Bạn cần đăng nhập hệ thống để học hết bài học.
Lệ phí : Bài học miễn phí
Tìm hiểu ngành nghề và trường học
Cơ khí – Cơ điện tử - Cơ kỹ thuật
Số phần: Bài học chưa được cập nhật
Số lần xem tối đa: 6 lần/phần
bai giang huong nghiep
Đánh giá bài giảng:

CHƯƠNG TRÌNH HƯỚNG NGHIỆP NHÓM NGÀNH

CƠ KHÍ – CƠ ĐIỆN TỬ - CƠ KỸ THUẬT

Nội dung bài giảng sẽ giúp các em trả lời các câu hỏi:

1.    Nhóm ngành Cơ Khí – Cơ Điện Tử - Cơ Kỹ Thuật là gì?

2.    Trường ĐH – CĐ nào đào tạo ngành CK - CĐT - CKT?

3.    Chương trình đào tạo ngành CK - CĐT - CKT tại các trường ĐH – CĐ?

4.    Chỉ tiêu, điểm chuẩn của từng chuyên ngành trong ngành CK - CĐT - CKT?

5.    Mức học phí của ngành này?

6.    Cơ hội học bổng và việc làm bán thời gian?

7.    Môi trường làm việc của ngành CK - CĐT - CKT sau khi ra trường?

8.    Con đường phát triển nghề nghiệp của ngành CK - CĐT - CKT?

9.    Nhu cầu nhân lực hiện tại và tương lai của ngành CK - CĐT - CKT?

10. Bạn cần phải chuẩn bị những gì để có thể thành công trong ngành này?

 

Chúc các em thành công!

Câu hỏi 1

HỎI: Mục tiêu đào tạo kỹ sư ngành Cơ điện tử là gì? Cơ hội việc làm sau này là như thế nào? Gia đình em làm bên cơ khí chế tạo máy móc, thiết bị tự động, điều khiển CNC, vậy sau khi học ngành này em có thể về làm tại gia đình được không ạ?

TRẢ LỜI: Ngành Cơ điện tử là ngành đào tạo kết hợp giữa cơ khí, điện tử và máy tính nhằm sản xuất ra các máy móc thông minh phục vụ cho các ngành sản xuất (gỉảm thiểu lao động thủ công).

Đây là ngành có nhu cầu việc làm rất lớn trong các công ty, nhà máy sản xuất các thiết bị tự động, các nhà máy sản xuất hiện nay có sử dụng các thiết bị điều khiển tự động. Nếu gia đình em có cơ sở sản xuất trong lĩnh vực liên quan thì đây là một thuận lợi lớn. Chúc em thành công.

Xem câu trả lời...

Câu hỏi 2

HỎI: Ngành cơ khí bảo quản chế biến nông sản ra trường làm những công việc gì, cơ hội việc làm như thế nào?

TRẢ LỜI: Ngành cơ khí bảo quản chế biến nông sản thực phẩm là ngành đào tạo kỹ sư cơ khí sản xuất ra các máy móc , thiết bị phục vụ cho bảo quản và chế biến nông sản thực phẩm.

Đây là ngành có nhu cầu việc làm rất lớn, sau khi tốt nghiệp có thể làm việc trong các công ty, nhà máy sản xuất máy móc, thiết bị phục vụ cho bảo quản và chế biến thực phẩm, các công ty, nhà máy chế biến... Tốt nghiệp ra trường nếu không muốn làm việc cho các Công ty, nhà máy, có thể mở các xưởng sửa chửa và chế tạo máy phục vụ cho bảo quản và chế biến.

Xem câu trả lời...

Câu hỏi 3

HỎI: Em muốn biết những kỹ năng cần thiết để có thể học tốt những ngành kỹ thuật. Ngoài những kiến thức ở trường phổ thông có cần phải thêm kỹ năng gì khác, có cần phải biết lập trình không?

TRẢ LỜI: Để học kỹ thuật thì sinh viên cần có tư duy logic tốt, học toán giỏi là một lợi thế lớn. Yêu thích đam mê nghề nghiệp là cơ sở để học tốt và thành đạt, việc này có thể xác định qua việc tìm hiểu kỹ lưỡng về ngành nghề mình chọn.

Riêng về CNTT càng cần về tư duy logic và sực cẩn thận nghiêm túc trong công việc - học và biết về lập trình phần nào giúp em rèn luyện trước những kỹ năng này. Nếu giỏi về lập trình thì em có thuận lợi hơn, tuy nhiên nếu chưa biết thì cũng không phải là cản trở lớn vì em sẽ có thời gian để làm quen và học những kỹ năng này ở trường đại học.

Xem câu trả lời...

Câu hỏi 4

HỎI: Chương trình đào tạo ngành Quản lý công nghiệp gồm những gì? Ngành này đào tạo nghiêng về kỹ thuật hay kinh tế?

TRẢ LỜI: Ngành Quản lý công nghiệp thuộc lĩnh vực quản trị kinh doanh nhưng được đặt trong trường đại học thiên về kỹ thuật công nghệ, ngành quản lý công nghiệp tạo điều kiện để các sinh viên phát triển cả năng lực quản trị kinh doanh và khoa học kỹ thuật trong một chương trình đào tạo gồm ba nhóm môn học: giáo dục đại cương; nhóm kiến thức kinh tế - quản lý; nhóm kiến thức kỹ thuật công nghệ … giúp nhà quản lý sau này phối hợp hiệu quả với các kỹ sư, nắm bắt dễ dàng các quá trình và sản phẩm công nghiệp.

Chương trình đào tạo đặc biệt thích hợp cho những người có thiên hướng quản lý, nhanh thích ứng, giỏi giao tiếp và giỏi cộng tác với nhiều người để cùng đạt đến mục tiêu mang tính tối ưu.

Xem câu trả lời...

Câu hỏi 5

HỎI: Ngành cơ điện tử khác với ngành tự động hóa như thế nào?

TRẢ LỜI: Ngành cơ điện tử là đào tạo các lĩnh vực về cơ khí và điện tử, còn ngành công nghệ tự động cũng được đào tạo các kiến thức về cơ khí và điện tử trong các lĩnh về tự động hóa trong các nhà máy, xí nghiệp...

Xem câu trả lời...

Câu hỏi 6

HỎI: Cơ khí động lực và cơ khí chế tạo máy giống hay khác nhau?

TRẢ LỜI: Ngành cơ khí động lực đào tạo ra kỹ sư công nghệ về bảo dưỡng, sửa chữa, đăng kiểm, kinh doanh trong lĩnh vực ôtô.  Ngành cơ khí chế tạo máy đào tạo kỹ sư về chế tạo máy, thiết kế khuôn mẫu, chế tạo robot...

Xem câu trả lời...

Câu hỏi 7

HỎI:  Em muốn hỏi sự khác nhau giữa hai ngành cơ khí động lực và sư phạm cơ khí động lực của Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM. Nếu học ngành sư phạm cơ khí động lực thì có thể làm được các công việc của ngành cơ khí động lực?

TRẢ LỜI: Trong chương trình đào tạo ngành sư phạm cơ khí động lực của Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM có những môn học, chứng chỉ về phương pháp giảng dạy, nghiệp vụ sư phạm so với ngành cơ khí động lực. Về kiến thức cơ sở ngành, chuyên ngành thì hai ngành trên là giống nhau. Do đó, nếu học ngành sư phạm cơ khí động lực em có thể làm việc trong lĩnh vực cơ khí động lực.

Xem câu trả lời...

Câu hỏi 8

HỎI: Xin giải thích rõ hơn về ngành Cơ giới hóa xếp dỡ. Có phải ngành này khi ra trường chỉ làm việc xếp dỡ hàng hóa ở cảng biển không?

TRẢ LỜI: Ngành Cơ giới hóa xếp dỡ cảng đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật chuyên ngành có năng lực chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu nói trên. Kỹ sư tốt nghiệp ngành này sẽ nắm vững chuyên môn về các nghiệp vụ quản lý, tổ chức, khai thác các phương tiện xếp dỡ; các nguyên lý cơ bản về cấu tạo, hoạt động, tính năng kỹ thuật của các máy xếp dỡ để có thể khai thác, sửa chữa, thiết kế mới và thiết kế cải tiến theo các yêu cầu trong thực tế sản xuất.

Sau khi ra trường, kỹ sư tốt nghiệp ngành này có thể công tác tại các cảng biển, nhà máy đóng và sửa chữa tàu thủy, các dàn khoan dầu khí, các nhà máy sản xuất công nghiệp. 

Xem câu trả lời...

Trang: 1 /2
Chủ đề 1

Ngành cơ khí - không chỉ là tiện, phay, bào, hàn

Với nhiều người, công việc của ngành cơ khí luôn liên quan đến sắt thép, liên quan đến các công việc gia công bằng tay như tiện, phay, hàn, bào.... Tuy nhiên, hiện nay với sự phát triển của công nghệ, công việc ngành cơ khí được chuyên môn hóa, nhiều công việc cơ khí mà người làm việc gần như không tham gia vào tiện, phay, bào, hàn

Ảnh minh họa

Cơ khí là ngành có lịch sử lâu đời, chiếm phần lớn trong cơ cấu hoạt động kinh tế xã hội. Ngành cơ khí tham gia vào một dải khá rộng các công việc sản xuất bao gồm từ khâu khai khoáng, hình thành vật liệu, gia công các thiết bị, chế tạo máy móc, và điều hành hệ thống sản xuất công nghiệp.

Trước đây để gia công một sản phẩm, người thợ phải lấy nguyên liệu, gia công bằng tay trên các máy móc nửa thủ công như máy tiện, máy phay, máy bào, máy hàn... Hiện nay công việc gia công đã được tự động hóa bằng các máy gia công hiện đại (máy CNC), công việc của người thợ chỉ còn là đứng máy nhấn nút, lập trình gia công... Lập trình gia công là một công việc quan trọng khi thực hiện trên các máy gia công tự động CNC, các công việc trước đây như lấy vật liệu (phôi), tiện, phay đều được máy tự động thực hiện một cách chính xác theo chương trình đã được lập trình.

Công việc thiết kế trước đây phải thực hiện bằng việc vẽ các bản vẽ bằng tay, ngày nay đã có sự hỗ trợ của máy tính với các chương trình chuyên hỗ trợ cho việc thiết kế cơ khí. Việc thiết kế cơ khí trên máy vi tính với sự hỗ trợ của phần mềm được gọi là CAD, CAD cho phép xây dựng được những bản vẽ có độ phức tạp cao. Người kỹ sư cơ khí hiện nay luôn phải biết về CAD.

Một bước tiến cao hơn trong ngành cơ khí là công nghệ CAD/CAM/CNC, tạo thành một quy trình khép kín từ khâu thiết kế đến khâu chế tạo sản phẩm bằng các máy móc gia công hiện đại.

Với những công nghệ như trên, ngành cơ khí ngày càng đóng góp tích cực để sản xuất ra các thiết bị, máy móc, sản phẩm cơ khí có độ chính xác cực cao, độ bền tốt

Công việc sau khi ra trường:

- Tham gia bộ phận vẽ kỹ thuật cơ khí, đòi hỏi phải có kiến thức về cơ khí, các phần mềm CAD

- Lập trình gia công máy CNC

- Tham gia lắp đặt các thiết bị máy móc cơ khí cho các nhà máy, công trình

- Tham gia công việc khai thác hệ thống sản xuất công nghệp: vận hành, bảo trì, xử lý sự cố

- Tham gia thiết kế các sản phẩm cơ khí, và giám sát quá trình sản xuất ra các thiết bị cơ khí đó

- Tham gia gia công sản phẩm: tiện, phay, hàn, gia công vật liệu...

Hướng nghiệp Việt

Xem chi tiết...

Chủ đề 2

Nghề hot tương lai: Cơ - Điện tử

Cơ - Điện tử là ngành khoa học tổng hợp liên ngành của cơ khí chính xác, điện tử, điều khiển và tư duy hệ thống trong thiết kế và phát triển sản phẩm. Đây là ngành rất quan trọng và không thể thiếu trong sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại.

Cơ điện tử không là một cuộc cách mạng về công nghệ mà chỉ là sản phẩm của quá trình phát triển, cơ điện tử tạo ra sự thay đổi lớn khi biết phối hợp từ các công nghệ đã có.

Hệ thống cơ điện tử đơn giản bao gồm sau:

1. Các hệ thống vật lý (Cơ chất rắn , Hệ dịch chuyển tịnh tiến và quay, Hệ thuỷ lực, Hệ thống điện, Hệ nhiệt, Hệ thống nano và micro…)

2. Cảm biến

Cảm biến các các thiết bị thu nhận thông tin từ bên ngoài để cung cấp cho bộ xử lý trung tâm, các cảm biến có thể nhận biết gia tốc, lực, momen, trọng lượng, màu sắc...

3. Các cơ cấu chấp hành: là các thiết bị thực hiện công việc thông qua việc tạo thành các lực và momen cần thiết.

4. Kỹ thuật điện tử: các thiết bị điện tử liên quan bao gồm các bo mạch chủ, mạch xử lý trung tâm, mạch điều khiển công suất...

5. Kỹ thuật điều khiển, lập phần mềm và công nghệ thông tin: các kỹ thuật để điều khiển thiết bị hiệu quả nhất, tốn ít nhiên liệu và dễ xử lý, lập trình cách mà bộ xử lý trung tâm phải tính toán và xử lý như thế nào, chúng có thể phối hợp với nhau ra sao...

Nhu cầu ngành Cơ điện tử như thế nào?

Để công nghiệp hóa và hiện đại hóa Việt Nam với độ gia tăng lớn và rút ngắn nhanh được khoảng cách trình độ công nghiệp của sản xuất với các nước công nghiệp phát triển, cần phải nhanh chóng đào tạo một đội ngũ cán bộ kỹ thuật mới, có kiến thức cơ bản rộng, có trình độ chuyên môn giỏi và hiện đại, để có thể làm chủ khai thác các công nghệ và dây chuyền thiết bị được chuyển giao công nghệ mới vào Việt Nam với trình độ tự động hóa linh hoạt, đồng thời đủ sức kế thừa và sáng tạo, đáp ứng cao nguồn nhân lực kỹ thuật cao trong nước và xuất khẩu.

Xu hướng phát triển của các ngành công nghiệp hiện nay là tin học hóa từ khâu quản lý vật tư đến quá trình chuẩn bị sản xuất, lập kế hoạch sản xuất, tiến hành sản xuất và quản lý chất lượng sản phẩm với tính tự động hóa ngày càng cao và tính linh hoạt cao.

Đó là các hệ thống sản xuất tự động linh hoạt điều khiển bằng máy tính… Các thiết bị công nghệ này được tổ hợp và tích hợp giữa các lĩnh vực cơ khí phát triển, điện tử với các bộ vi xử lý, cảm biến thông minh và giao diện tiện ích với người sử dụng.

Chúng ta cần phải nhanh chóng đào tạo và cung cấp cho thị trường các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật tích hợp đủ các khối kiến thức giao ngành để có thể tham gia vào các công việc như thiết kế, chế tạo, bảo trì, khai thác và vận hành cũng như cải tiến, nâng cấp các hệ thống tự động này.

Hiện nay ở nước ta, các doanh nghiệp Nhà nước, các xí nghiệp liên doanh có vốn đầu tư của nước ngoài đã đưa vào sử dụng các dây chuyền thiết bị hiện đại của các nước công nghiệp phát triển.

Các sản phẩm truyền thống cũng đã được sản xuất tự động hóa thành dây chuyền sản xuất như các nhà máy sản xuất thép, nhà máy xi măng, nhà máy sản xuất gạch ceramic, nhà máy đường, nhà máy chế biến cao su, nhà máy sản xuất và chế biến thức ăn gia súc, nhà máy sản xuất nước giải khát Coca Cola, Pepsi, bia, nhà máy sản xuất đồ chơi trẻ em, các nhà máy chế biến cà phê, dây chuyền sản xuất các sản phẩm bằng inox …

Việc quan trọng là làm sao để đảm bảo cho hệ thống sản xuất một cách ổn định, tin cậy và lâu dài. Khả năng mở rộng năng lực sản xuất và công tác phục hồi, bảo trì, sửa chữa hệ thống sao cho vừa nhanh chóng và hiệu quả kinh tế … Cho đến nay, các kỹ sư mới chỉ có thể giải quyết được từng phần công việc riêng rẽ, chưa có được sự kết nối chặt chẽ và khoa học giữa các mảng công việc, chưa có được đội ngũ kỹ sư có thể giải quyết được các vấn đề thuộc giao ngành Cơ - Tin - Điện tử một cách toàn diện.

Đồng thời trong các đó các thiết bị điện tử và các bộ vi xử lý sử dụng trong công nghiệp ngày càng nhiều nên công việc thiết kế, chế tạo, vận hành, bảo trì và nâng cấp các hệ thống sản xuất tiên tiến đòi hỏi phải có đủ cán bộ kỹ thuật có trình độ cao, có kiến thức liên ngành.

Chính vì vậy, theo dự báo của các chuyên gia ngành cơ điện tử, nhu cầu nhân lực cho ngành này đang có chiều hướng ngày càng gia tăng và đặc biệt là vài năm tới.

Cần gì ở đội ngũ kỹ sư Cơ - Điện tử?

Kỹ sư Cơ - Điện tử cần được trang bị những kiến thức cơ bản nhất về truyền động cơ khí, thủy lực và khí nén, cấu trúc hệ thống máy và động lực học hệ thống, cơ khí chính xác, điều khiển học, điện kỹ thuật, điện tử kỹ thuật và máy tính.

Có thể nói rằng, các khối kiến thức cơ bản được tích hợp từ các lĩnh vực của các ngành sẽ được liên kết chặt chẽ một cách thống nhất trong một chương trình đào tạo theo xu hướng mở. Điều này sẽ có thể cho phép chúng ta thường xuyên cập nhật được các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến của thế giới.

Theo tính đặc thù của các ngành sản xuất công nghiệp trên toàn quốc, qua nghiên cứu và điều tra, hầu như các xí nghiệp được đầu tư gần đây đều đã đưa vào sử dụng một phần hoặc toàn bộ các lĩnh vực điều khiển tự động hay điều khiển bằng máy tính trong việc giám sát, điều khiển và kiểm tra chất lượng sản phẩm.

Có thể thấy rằng, các hệ thống sản xuất tự động được hình thành từ các mối quan hệ ghép nối hữu cơ với nhau từ hai bộ phận cơ bản là khối điều khiển và khối chấp hành mà trong quá trình hoạt động chúng luôn được đặt trong một thể thống nhất. Các chức năng của các hệ thống, các bộ phận đều có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp và vì thế chúng luôn có sự ảnh hưởng đáng kể đến nhau.

Mục tiêu đào tạo ngành này là làm sao sinh viên tốt nghiệp có thể sử dụng, vận hành và bảo trì tốt các thiết bị của hệ thống sản xuất tự động; Khai thác và xây dựng các phần mềm trong việc điều khiển các máy móc tự động bằng máy tính và các phương tiện điều khiển số khác; Thiết kế cải tiến, thiết kế chế tạo mới và lắp ráp các thiết bị khác nhau trong hệ thống sản xuất tự động.

Theo đánh giá của các chuyên gia để học tốt ngành này người học cần phải hội tụ các yếu tố về kỹ năng Toán học và Vật lý. Bên cạnh đó, người học cần phải có tư duy sáng tạo. Điều đặc biệt là người học cần phải đam mê với chuyên ngành này. Ngành Cơ - Điện tử cũng đòi hỏi tính tỉ mỉ, chính xác và sự kiên nhẫn…

Có thể nói rằng, mục đích cần đạt được của chương trình đào tạo Kỹ sư Cơ - Điện tử là khá cao, nó được tích hợp từ nhiều khối kiến thức của các ngành Cơ khí chính xác, Điện tử, Tin học, Tự động hóa … Điều quan trọng nhất ở đây là mối liên kết hữu cơ của các mảng kiến thức phải được trở thành một khối kiến thức thống nhất.

Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam khối các trường đào tạo chuyên ngành Cơ - Điện tử để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp vẫn chỉ đếm ở trên đầu ngón tay.

Nguồn: Dân Trí

Xem chi tiết...

Chủ đề 3

Cơ điện tử - Cơ hội và thách thức

1.     Làm rõ hơn về Cơ điện tử


1.1 Hiểu về Cơ điện tử ngày nay

Cơ điện tử được hiểu là một công nghệ mới được hình thành từ sự liên kết của nhiều ngành công nghệ hiện có như cơ khí, điện tử, điều khiển, công nghệ thông tin vv.. Tuy nhiên do là một công nghệ mới đang phát triển và mở rộng với tốc độ nhanh nên khó có thể có ngay được một định nghĩa chính xác.Một định nghĩa quá cứng bây giờ có thể gây nhiều hạn chế, thiếu chính xác trong tương lai. Ta đã thấy điều này qua ba thập kỷ phát triển của Cơ điện tử.

Nhiều định nghĩa về Cơ điện tử khác nhau đã được nhiều nhà khoa học và công nghệ đưa ra với các cách nhìn và quan điểm khác nhau. Tuy vậy một nét chung nhất được thừa nhận và cũng là bản chất của cơ điện tử là sự “liên kết cộng năng của nhiều lĩnh vực để tạo ra những sản phẩm mới có những tính năng vượt trội”. Sự liên kết cộng năng này mang lại nhiều cơ hội và không ít thách thức cho sự phát triển của chính cơ điện tử.

Cho đến bây giờ còn nhiều bàn cãi về định nghĩa và nhiều quan điểm khác nhau về cơ điện tử có phải là một công nghệ mới không hay đơn thuần là sự kết hợp thông thường của các công nghệ đã biết. Có quan điểm cho cơ điện tử không phải là một ngành khoa học mà chỉ đơn thuần là một công nghệ không có nền tảng khoa học cơ bản như cơ học, điều khiển học vv.. Trong báo cáo này tác giả đề cập đến quan điểm của mình đối với những vấn đề nêu trên và trình bày một số ý kiến của mình về những cơ hội và thách thức của cơ điện tử đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu.

Trước tiên theo suy nghĩ của tác giả đến thời điểm này thì cơ điện tử có thể được định nghĩa như sau:

“Cơ điện tử là một lĩnh vực khoa học và công nghệ được hình thành từ sự cộng năng của nhiều ngành khoa học công nghệ nhằm hoàn thiện, thông minh hoá tạo nên linh hồn và cảm xúc cho các sản phẩm và công cụ phục vụ cho con người”.

1.2 Cơ điện tử khác với Tự động hoá như thế nào?

Nhiều chuyên gia về tự động hoá cho rằng cơ điện tử chả là cái gì mới vì khi xây dựng các hệ thống điều khiển tự động các chuyên gia tự động hoá đã phải làm công việc tích hợp hệ thống, kết nối đầu đo, cơ cấu chấp hành, máy tính điều khiển, viết phần mềm đo - điều khiển và lựa chọn cả các thiết bị giao diện để điều khiển các quá trình công nghệ kể cả các hệ cơ. Như vậy các hệ thống tự động hoá cũng đã tích hợp nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ khác nhau từ lâu. Điều này hoàn toàn đúng và thực tế để xây dựng được các hệ thống điều khiển quá trình cơ học, các chuyên gia tự động hoá cũng phải hiểu thấu đáo các mô hình, quá trình động lực học của hệ cơ học và của cả các đầu đo, cơ cấu chấp hành mới tích hợp được một hệ thống hoạt động ổn định và tối ưu. Mặt khác phương pháp tích hợp các hệ thống điều khiển này không chỉ cho riêng các đối tượng, quá trình cơ mà các chuyên gia tự động hoá còn làm nhiều hơn trong lĩnh vực điều khiển các quá trình công nghệ và tự động hoá công nghiệp (điều khiển lò phản ứng, điều khiển nồi hơi hay tự động hoá quá trình xử lý nước thải...).

Vậy thì cơ điện tử có các điểm nào mới hơn các hệ thống tự động?

Với những gì hiện nay chúng ta hiểu về hệ thống cơ điện tử thì những điểm mới của cơ điện tử so sánh với các hệ tự động hoá khác nhau ở 3 điểm sau:

- Một là: Các sản phẩm cơ điện tử thường là các sản phẩm cuối cho người dùng (end-user products)

Ngay từ khi hình thành khái niệm “cơ điện tử” các chuyên gia Nhật Bản đã định hướng cho khái niệm này là sản phẩm kết hợp cơ và điện tử hơn là nói đến một hệ thống công nghệ cao. Có nghĩa là các sản phẩm cơ điện tử là các sản phẩm cho người sử dụng cuối cùng như các đồ dùng, thiết bị gia dụng được chế tạo hàng loạt, hoặc các sản phẩm chất lượng cao như ôtô, máy bay, tên lửa, tàu vũ trụ, thiết bị y tế, các bộ phận cơ thể nhân tạo thay thế cho con người vv... Các sản phẩm này được thiết kế và chế tạo một cách tiện ích nhất, phù hợp với các yêu cầu riêng cho người sử dụng và người sử dụng không quan tâm đến các công nghệ được dùng trong nó mà họ mua và dùng các sản phẩm này vì nó tốt hơn, kinh tế hơn, tiện dụng hơn phù hợp với những yêu cầu riêng của mình. Do vậy, các sản phẩm cơ điện tử phải tuân thủ quy luật thị trường là tính kinh tế và thoả mãn yêu cầu người dùng hơn là chỉ đạt chỉ tiêu kỹ thuật đơn thuần.

- Hai là: các sản phẩm cơ điện tử có các công nghệ thích ứng tinh xảo, có tính thông minh và thiết kế cơ khí cô đọng bền chắc.

Với các công nghệ micro và nano hiện nay các sản phẩm cơ điện tử có thể đưa các cảm biến, vi xử lý và cơ cấu chấp hành vào bất kỳ vị trí không gian hẹp cô đọng nào trong cấu trúc cơ khí của sản phẩm. Điều này tạo nên các sản phẩm cơ điện tử có độ thông minh cao mà lại đặt được vào một cấu trúc hoàn hảo cô đọng cả về kích thước, trọng lượng và tiêu thụ năng lượng.

- Ba là: Độ tự do của thiết kế cơ điện tử lớn hơn

Thiết kế các sản phẩm cơ điện tử là một thiết kế tổng hợp tối ưu nên nó là một thiết kế cho phép thay đổi được tất cả các bộ phận cơ khí, đầu đo, cơ cấu chấp hành, vi xử lý điều khiển để đạt được một thiết kế hoàn hảo cân bằng. Cấu trúc cơ khí cũng có thể thay đổi, các bộ phận điện tử, điều khiển cũng có thể thay đổi linh hoạt cho từng loại sản phẩm. Như vậy thiết kế cơ điện tử là một thiết kế cộng tác để đạt được một sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Ngược lại khi tích hợp các hệ thống tự động các chuyên gia tự động phải chấp nhận đối tượng điều khiển (quá trình cơ khí) như một thực thể cố định. Các đầu đo, cơ cấu chấp hành cũng là các sản phẩm có sẵn và bộ phận có thể thay đổi được là bộ điều khiển và thuật toán điều khiển. Độ tự do trong thiết kế tích hợp các hệ thống tự động bó hẹp hơn nhiều so với độ tự do của thiết kế các sản phẩm cơ điện tử.

1.3. Cơ điện tử là một lĩnh vực khoa học hay công nghệ?

Hiển nhiên cơ điện tử với sự kết hợp tối ưu của công nghệ cơ, điện tử, điều khiển... dễ được coi là một lĩnh vực công nghệ hơn là một lĩnh vực khoa học. Điều này một phần cũng do hiện nay chưa hình thành được nền tảng khoa học, cơ sở lý luận của cơ điện tử. Ngược lại đối với cơ khí ta có cơ học là nền tảng khoa học; tự động hoá có lý thuyết điều khiển tự động và lý thuyết hệ thống làm nền tảng; điện tử có các phương trình maxell, lý thuyết mạch, công nghệ thông tin có lý thuyết automat, cơ sở dữ liệu, lý thuyết thông tin ... làm nền tảng. Vậy cơ điện tử có nền tảng khoa học của nó hay không?

Để làm sáng tỏ vấn đề này ta hãy xuất phát từ bản chất của cơ điện tử là sự cộng năng, gắn kết hữu cơ của nhiều ngành khoa học công nghệ khác nhau. Do vậy cơ điện tử cũng có phần khoa học dựa trên nền tảng khoa học của từng lĩnh vực riêng rẽ và phần khoa học của sự liên kết đa ngành. Chính phần khoa học của sự liên kết đa ngành này tạo nên sự khác biệt về mặt khoa học của cơ điện tử. Tuy nhiên qua 3 thập kỷ phát triển, cái bản chất của sự cộng năng này lại ít được nghiên cứu mổ xẻ nhất. Đây là một nhược điểm ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của cơ điện tử, như một ngành khoa học. Các nghiên cứu về cơ điện tử chưa tìm ra được các quy luật tạo nên sức mạnh tổng hợp, vượt trội của sự liên kết đa ngành, chưa chỉ ra được sự liên kết đa ngành tạo ra những khả năng lựa chọn giải pháp tối ưu như thế nào.Việc nghiên cứu khám phá ra những quy luật của sự gắn kết đa ngành sẽ cho ta hiểu rõ hơn về các cơ hội và thách thức mà cơ điện tử mang lại.Đồng thời các nghiên cứu này sẽ đem lại những kết quả khoa học mới có thể quay lại thúc đẩy các nghiên cứu hướng mới ở mỗi ngành (lý thuyết điều khiển, lý thuyết hệ thống...).

Sự tích hợp của nhiều công nghệ (cơ, điện tử, phần mềm, điều khiển...) dẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau đòi hỏi sự đặc biệt chú ý trong quá trình phát triển sản phẩm cơ điện tử. Nguyên nhân do sự phụ thuộc đan chéo dẫn đến sự tăng đột biến của độ phức tạp ảnh hưởng tới những vấn đề về độ tin cậy và tính ổn định của hệ thống. Để có thể khắc phục được những vấn đề này cần có các nghiên cứu về lý luận, các phương pháp xử lý hữu hiệu, các mô hình và công cụ phù hợp. Đây là những thách thức khoa học hóc búa mà cơ điện tử phải giải quyết trong tương lai.

Với những phân tích trên đây ta cơ thể thấy cơ điện tử được hình thành ban đầu như một lĩnh vực công nghệ nhưng sự phát triển của nó ngày càng đòi hỏi phải giải quyết những vấn đề khoa học của riêng mình. Đó là những vấn đề khoa học, quy luật của sự liên kết đa ngành. Trong tương lai sự gắn kết giữa cơ điện tử với ngành sinh học tạo nên lĩnh vực bio_mechatronics còn là một thách thức lớn hơn về mặt khoa học cho sự phát triển của cơ điện tử.

1.4. Thế nào là công nghiệp cơ điện tử?

Ta có các ngành công nghiệp cơ khí, điện tử, công nghiệp tự động hoá, công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp chế tạo đầu đo, cơ cấu chấp hành, vậy có nền công nghiệp cơ điện tử hay không? Có ý kiến cho rằng cơ điện tử là sự tích hợp của các ngành công nghệ có sẵn nên việc chế tạo các sản phẩm cơ điện tử hoàn toàn có thể dựa trên các ngành công nghiệp hiện có nêu trên.Nói vậy cũng đúng vì thực tế hiện nay việc chế tạo, sản xuất các sản phẩm cơ điện tử đang phải dựa vào các nhà máy sản xuất của các ngành công nghiệp hiện có.Tuy nhiên một khi số lượng và chủng loại sản phẩm cơ điện tử ngày càng nhiều trên thị trường thì hiển nhiên sẽ hình thành ngành công nghiệp cơ điện tử. Vậy công nghiệp cơ điện tử là gì và nó cós những đặc trưng gì khác với các ngành công nghiệp hiện hành?

Có thể hiểu công nghiệp cơ điện tử là ”ngành công nghiệp cung cấp các sản phẩm, kỹ năng và dịch vụ cơ điện tử chất lượng cao cho người tiêu dùng”.

Ngành công nghiệp cơ điện tử cũng như các ngành công nghiệp khác bao gồm các mảng chức năng chính sau:

- Hệ thống quản lý điều hành và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất

- Mảng vận hành hệ thống sản xuất và chế tạo các sản phẩm về thiết bị cơ điện tử

- Mảng tiếp thị sản phẩm

- Mảng đào tạo

Trong dây chuyền sản xuất các sản phẩm cơ điện tử hiện nay thường bao gồm các hệ thống điện, hệ thống khí nén, hệ thống điện tử, hệ thống PLC, hệ thống cảm biến, hệ thống thuỷ lực, CNC và hệ thống robot. Trong đó, mảng chế tạo các bộ phận và hệ thống cơ điện tử thường bao gồm các bộ phận thiết kế, phát triển các phần mềm ứng dụng, chế tạo các chi tiết, lắp ráp và thử nghiệm kiểm tra chất lượng sản phẩm. Khác với các ngành công nghiệp khác, công nghiệp cơ điện tử đòi hỏi tư duy thiết kế và chế tạo liên ngành. Phần thiết kế có độ tự do lớn bảo đảm tính liên kết hoàn hảo của hệ thống trong khi phần chế tạo các phần tử, chi tiết lại được thực hiện ở các ngành công nghiệp độc lập. Thiết kế sản phẩm cơ điện tử là loại “thiết kế hướng tới thị trường” khác với các lợi thiết kế sản phẩm truyền thống là “thiết kế cho đạt các chỉ tiêu kỹ thuật”, hoặc thiết kế để “cơ giá thành rẻ nhất”. Thiết kế cơ điện tử đòi hỏi áp dụng các công nghệ cao cho các chức năng vượt trội nhưng giá thành có sức cạnh tranh và lợi ích thoả mãn người tiêu dùng.

Do các sản phẩm cơ điện tử là các sản phẩm hướng tới các yêu cầu có cá tính của người tiêu dùng, cho nên ngành công nghiệp cơ điện tử phải có tính mềm dẻo cao để bảo đảm được thời gian đưa các sản phẩm ra thị trường nhanh kịp thời với các cơ hội kinh doanh nảy sinh liên tục trong quá trình phát triển của xã hội loài người.

1.5. Xu thế phát triển của cơ điện tử ngày nay

Trên thực tế sự gắn kết hữu cơ nhiều công nghệ trong một sản phẩm đã có từ lâu trước cả khi khái niệm “cơ điện tử” mà các chuyên gia Nhật đưa ra. Ví dụ công nghiệp hàng không, công nghiệp vũ trụ và công nghiệp quốc phòng đã cho ra các sản phẩm như máy bay, tên lửa có điều khiển, tàu ngầm trinh sát không người lái hàng thập kỷ nay. Các sản phẩm này được tích hợp một cách hữu cơ các công nghệ cơ, điện, điện tử, máy tính, điều khiển, cảm biến cơ cấu chấp hành và là những sản phẩm cơ điện tử cao cấp cỡ lớn cả về chức năng và giá thành phục vụ cho những mảng thị trường đặc chủng. Do tính đặc thù của các sản phẩm này mà các kỹ năng liên kết các công nghệ của nó đã không được phổ cập trong một thời gian dài. Ta có thể nhận thấy với sự phát triển của khoa học công nghệ nhất là công nghệ vi xử lý _xu thế phát triển của cơ điện tử đã và đang chuyển dần từ các sản phẩm cơ điện tử cao cấp (máy bay, tên lửa...) đến các sản phẩm cơ điện tử công nghiệp (ôtô, camera, robot gia đình...). Người Nhật đã đi tiên phong trong hướng này và đã cho ra đời khái niệm “cơ điện tử” vào cuối những năm 60 đầu năm 70 của thế kỷ 20. Đây thực sự là một công nghệ làm thay đổi thế giới. Tuy nhiên các sản phẩm cơ điện tử công nghiệp chừng mực nào đó còn có nhiều thách thức cao hơn so với các sản phẩm của công nghệ hàng không do nó không phải là sản phẩm của một ngành chuyên dụng. Cơ điện tử công nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của thị trường sản phẩm chế tạo hàng loạt, như chu kỳ đổi mới sản phẩm ngắn, giá cả cạnh tranh và thời gian đưa ra thị trường phải nhanh. Do vậy, cơ điện tử công nghiệp không chỉ đơn thuần có tư duy thiết kế hệ thống mà phải có cả tư duy thiết kế hướng sản phẩm.

* Xu thế thứ hai là sự chuyển dịch thay thế các chức năng, nguyên lý và thiết kế cơ khí sang các giải pháp phần mềm được thể hiện trong các hệ nhúng ở các sản phảm cơ điện tử. Xu thế chuyển các chức năng cơ khí vào phần mềm đã được khẳng định qua tỷ lệ giữa phần cơ/phần cứng/phần mềm trong việc phát triển các sản phẩm cơ điện tử. 15 năm trước đây, tỷ lệ này là 60/25/15. Vào năm 1998, tỷ lệ này còn 30/15/55 và hiện nay tỷ lệ phần mềm còn cao hơn. Hiện nay, phần mềm tạo nên sự linh hoạt và độ tự do lớn trong thiết kế các sản phẩm cơ điện tử. Phần lớn phần mềm được thể hiện trong các chíp phần cứng, do vậy ta hiểu thiết kế phần mềm ở đây là sự thiết kế phối hợp cứng/mềm (hardware/software co-design). Tuy nhiên, hiện nay đã xuất hiện nhiều công nghệ cho phép tạo ra các chíp cứng chuyên dụng trên cơ sở lập trình phần mềm như công nghệ PSoC (Programmable System on Chip) của hãng CypressMicroSystem mà trong hội nghị này có nhiều báo cáo đề cập đến.

* Xu thế thứ ba là sự chuyển dịch từ phương pháp tiếp cận trên cơ sở phối ghép hệ thống nhỏ sang phương pháp tiếp cận hệ thống lớn toàn cục.

Phần lớn các sản phẩm cơ điện tử hiện nay được phát triển trên cơ sở phối ghép các hệ thống nhỏ thành hệ thống tích hợp. Bản chất của phương pháp này là từng hệ nhỏ (cơ khí, điện tử, phần mềm...) được thiết kế độc lập nhưng chú trọng đến việc phối ghép với các hệ thống con còn lại. Một khi các phương thức phối ghép đã được xác định thì mỗi hệ thống con được thiết kế độc lập theo các phương pháp truyền thống của mình. Với cách tiếp cận này thì không thực sự cần thiết phát triển một công nghệ thiết kế mới để đạt đưọc các tính năng vượt trội mà sự kết hợp liên ngành mang lại. Trong khi đó những giá trị gia tăng, những chức năng ưu việt của cơ điện tử lại xuất phát từ sự gắn kết hữu cơ giữa các công nghệ. Do vậy, nhu cầu tất yếu và cũng là một xu thế phát triển của cơ điện tử hiện nay là tìm ra được các cơ sở khoa học, mô hình và công cụ để có thể mô hình hoá, phân tích, tổng hợp, mô phỏng và chế thử các hệ thống liên kết đa công nghệ. Điều này sẽ tạo cho cơ điện tử một sự phát triển nhảy vọt, có cơ sở khoa học chắc chắn, các sản phẩm cơ điện tử sẽ được thiết kế theo phương pháp từ trên xuống (top-down) khác với cách thiết kế đi từ dưới lên (bottom – up) đang phổ biến hiện nay.

* Xu thế thứ 4 là cơ điện tử ngày càng mở rộng, gắn kết với các công nghệ mới khác và đi từ vĩ mô sang thế giới vi mô:

Ngoài các sản phẩm và hệ thống cơ điện tử thông thường, ta thấy đã xuất hiện nhiều sản phẩm vi cơ điện MEMS (MicroElectromechanical - Microelectronic Systems) và đang nghe nhiều đến lĩnh vực công nghệ cao Nano NEMS (Nano Electromechanical - Nanomechotronic Systems). Trong khi cơ điện tử thông thường và vi cơ điện MEMS dựa trên cơ sở khoa học của cơ học và lý thuyết điện từ trường, thì công nghệ Nano NEMS dựa trên cơ sở khoa học của cơ lượng tử và đi sâu vào thế giới vi mô phân tử. Công nghệ Nano hứa hẹn nhiều kết quả và ứng dụng phi thường nhưng còn rất nhiều thách thức đòi hỏi nhiều thời gian và đầu tư. Với bản chất gắn kết nhiều công nghệ cao trong một sản phẩm, cơ điện tử ngày càng tích hợp trong nó những công nghệ mới. Trước tiên, phải nói đến lĩnh vực trí khôn nhân tạo bao gồm cả lĩnh vực xử lý tiếng nói và hình ảnh sẽ mang lại linh hồn và cảm xúc cho các sản phẩm cơ điện tử trong tương lai. Việc tích hợp với công nghệ sinh học tạo nên các hệ thống bio_mechatronics đang mở ra những chân trời mới cho sự sáng tạo của loài người.

1.6. Nhìn lại sự phát triển cơ điện tử ở nước ta thời gian qua

Phải nói trong thời gian qua lĩnh vực cơ điện tử của nước ta đã có nhiều chuyển biến vượt bậc. Nổi bật nhất là với sự nỗ lực của Viện nghiên cứu chiến lược khoa học công nghệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, cơ điện tử đã trở thành một trong những lĩnh vực công nghệ trọng điểm trong chiến lược phát triển khoa học công nghệ của cả nước ta từ nay đến năm 2010. Hợp tác quốc tế về cơ điện tử đã được thúc đẩy ở cả ba miền Nam Bắc, từ hội nghị Nhật – Mĩ - Việt Nam RESSECE’98 ở Hà Nội, RESSCE’00 ở TP HCM đến trường hè về cơ điện tử ở Đà Nẵng năm 2002 và tháng 11 này chúng ta sẽ tổ chức hội nghị cơ điện tử quốc tế lần 9 tại Hà nội. Lĩnh vực cơ điện tử đã được hình thành tại nhiều trường đại học ở Hà Nội, TP HCM và Đà Nẵng. Các cuộc thi sáng tạo robot đã mang lại nhiều cơ hội cho giới trẻ tiếp cận đến các phương pháp và kỹ năng thiết kế và tích hợp các sản phẩm cơ điện tử. Việc nghiên cứu về lĩnh vực cơ điện tử đang được triển khai với sự phát triển đáng kể tại các viện nghiên cứu, các trường đại học và nhiều cơ sở sản xuất. Qua số bài tham gia hai hội nghị toàn quốc về cơ điện tử lần thứ nhất tại Hà Nội và lần thứ hai bây giờ đã chứng tỏ các tiềm năng nghiên cứu sáng tạo của chúng ta trong lĩnh vực khoa học công nghệ cơ điện tử mới mẻ này. Trong sản xuất các sản phẩm cơ điện tử đã được nhiều cơ sở trong cả nước và các liên doanh tổ chức sản xuất tại Việt Nam như Viện máy công cụ và Dụng cụ, nhà máy sản xuất robot ở khu công nghiệp Nomura Hải Phòng. Thị trường các sản phẩm và hệ thống cơ điện tử ở Việt Nam còn rộng mở cho nhiều cơ hội đầu tư và phát triển.

Tuy nhiên sự phát triển của lĩnh vực cơ điện tử ở nước ta cũng gặp không ít khó khăn do bản thân ngành cơ điện tử là một ngành khoa học công nghệ mới nên việc thâm nhập vào đời sống sản xuất đòi hỏi phải cơ một quá trình thay đổi nhận thức và chính sách vĩ mô. Sự phát triển có được trong thời gian qua chủ yếu là sự phát triển nghiên cứu tự phát tuân theo quy luật cung cầu của thị trường, sự nỗ lực của các chuyên gia tâm huyết và sự phát triển của Internet mang lại.

 2. Cơ hội và thách thức của cơ điện tử đối với quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu của Việt Nam.

Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu không thể tránh khỏi đối với các quốc gia và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Vấn đề là chúng ta chủ động hay bị động trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu này. Cơ điện tử một ngành khoa học và công nghệ nổi trội đang làm thay đổi thế giới mang lại cho chúng ta nhiều cơ hội, và không ít thách thức trong qúa trình hội nhập này. Chúng ta hãy điểm qua một số cơ hội và thách thức này đối với sự phát triển của Cơ điện tử Việt Nam:

2.1. Cơ điện tử – cơ hội vàng cho Việt Nam và mỗi chúng ta

Thị trường là động lực thúc đẩy sự phát triển và là cơ hội vàng cho sự phát triển cơ điện tử của Việt Nam. Phải nói quá trình hội nhập đã mở cửa thị trường cho các sản phẩm của ta sang mọi châu lục. Thị trường của các sản phẩm cơ điện tử là thị trường mới không chỉ ở trong nước mà ở cả các nước đang phát triển và phát triển trên toàn cầu. Đây là thị trường chưa bị bão hoà nên mức độ cạnh tranh chưa khốc liệt. Mặt khác nhu cầu sử dụng các sản phẩm cơ điện tử ngày càng nhiều và chủng loại sản phẩm cơ thể nói là vô tận. Các sản phẩm cơ điện tử được hình thành từ các ý tưởng thông minh hoá, bổ sung các chức năng mới cho các sản phẩm hiện hành và tạo ra các sản phẩm mới bằng sự tích hợp liên kết nhiều công nghệ cao trong sản phẩm từ đơn giản đến phức tạp. Như vậy ta có thể thông minh hoá, tạo linh hồn và cảm xúc cho các đồ dùng, thiết bị, máy móc xung quanh ta sáng tạo nên các sản phẩm mới với các chức năng vượt trội. Có thể tưởng tượng từ cái chăn biết tự động đắp cho em bé ngủ mỗi khi bé trở mình, hoặc biết ru cho bé ngủ khi cần thiết, các thiết bị gia dụng biết ngoan ngoãn vâng lời và tự học để chiều lòng theo các tập quán và sở thích riêng của chủ nhân, cái kính biết tự động đổi số trong quá trình sử dụng phù hợp với thị giác của người dùng, đến các bộ quần áo biết tự động kiểm tra sức khoẻ cảnh báo chủ nhân và tự động gọi cấp cứu mỗi khi cơ sự cố nguy hiểm.

- Với sức tưởng tượng phong phú của người Việt Nam ý tưởng sáng tạo ra các sản phẩm mới là vô tận và cơ điện tử sẽ là công nghệ, tạo nên cơ hội cho Việt Nam và cho mỗi chúng ta có thể thành công trên thị trường toàn cầu.

- Với thị trường đồ sộ, cơ điện tử thực sự sẽ tạo nên nhiều cơ hội việc làm mới cho các nhà nghiên cưú và các nhà chuyên môn với nhiều ứng dụng trong mọi ngành nghề từ nông nghiệp, y tế, năng lượng, giao thông vận tải… tới các ngành dịch vụ giải trí, bưu chính viễn thông, an ninh quốc phòng v.v…Những nghiên cứu khảo sát về thị trường cho thấy riêng trong lĩnh vực tự động hoá xí nghiệp thị trường của cơ điện tử cũng có thể lên đến 200 tỷ EURO trong năm 2008. Thị trường ô tô đang được phát triển với tốc độ chóng mặt do tác động của công nghệ cơ điện tử. Công nghiệp ô tô đang trong giai đoạn chuyển đổi công nghệ. Có đến 90% các cải tiến đổi mới ở ô tô nằm trong phần mềm và phần điện tử.

Cơ điện tử cũng đang tạo ra nhiều cơ hội việc làm trong giáo dục đào tạo. Các kỹ sư cơ khí, các kỹ sư điện ở các nhà máy hiện nay cần được đào tạo, bổ túc các kiến thức và cách làm việc phối hợp của cơ điện tử. Đây là một nhu cầu vô cùng lớn. Mặt khác nhu cầu kỹ sư cơ điện tử được đào tạo bài bản sẽ là một nhu cầu luôn tăng trưởng hiện nay và trong tương lai.

- Với quá trình hội nhập và mở cửa nhiều công nghệ mới, nguồn vốn và thông tin dễ dàng đến với Việt Nam tạo điều kiện và nhiều cơ hội cho các ý tưởng sáng tạo với sự lao động kiên trì đạt được các thành công.

2.2. Những thách thức của cơ điện tử

Bên cạnh những cơ hội ta cũng còn phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình phát triển cơ điện tử như sau;

*Thách thức đối với quá trình đào tạo nguồn nhân lực cơ điện tử

Một câu hỏi đặt ra là liệu ta có thể thực sự dạy được cơ điện tử hay không?

Do cơ điện tử là một lĩnh vực liên ngành nên việc đào tạo cơ điện tử ở các trường cũng rất đa dạng. Tuy nhiên, chúng ta chưa hình thành một giáo trình chuẩn về cơ điện tử ở các trường đại học lớn ở các nước và điều này cũng khó có thể có tính đa dạng sản phẩm của lĩnh vực cơ điện tử. Mặt khác, sự phối hợp giữa đào tạo và sản xuất trong lĩnh vực cơ điện tử cũng còn nhiều khó khăn nhất là kết hợp bài giảng với việc thực hành cơ điện tử ở các nhà máy. Quan điểm về kỹ sư cơ điện tử ở các nhà máy cũng khác với quan điểm về kỹ sư cơ điện tử ở các viện nghiên cứu, trường đại học. Một số cho rằng các kỹ sư cơ điện tử là các nhà kiến trúc sư công nghệ hơn là các chuyên gia, số khác lại nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tiếp cận hệ thống hơn là đi sâu vào các công nghệ . Một vấn đề thách thức nữa là sự phát triển của cơ điện tử đòi hỏi sự cập nhật thông tin của nhỉều ngành công nghệ, trong đó có công nghệ vi điện tử và công nghệ thông tin có tốc độ phát triển quá nhanh. Do vậy, yêu cầu về nội dung giảng dạy và các giáo viên giảng dạy cũng phải cập nhật được các kiến thức mới. Điều này không phải là dễ dàng đối với các nước nghèo như Việt Nam.

Một thách thức không nhỏ là vấn đề thực hành trong đào tạo cơ điện tử. Vì cơ điện tử là lĩnh vực có tính ứng dụng caovà đòi hỏi kỹ năng thực hành của nhiều công nghệ cao nhất là công nghệ điều khiển thời gian thực, các hệ nhúng. Đầu tư cho các phòng thí nghiệm cơ điện tử đòi hỏi không ít kinh phí và trí tuệ.

Thách thức đối với nghiên cứu khoa học:

Cơ điện tử một mật là công nghệ tạo nên sản phẩm mới, mặt khác lại là một lĩnh vực khoa học hóc búa, cần nhiều nghiên cứu tập trung vào các tác động tương hỗ giữa các lĩnh vực công nghệ khi chúng được tích hợp với nhau một cách hữu cơ. Chúng ta còn biết quá ít về các ảnh hưởng về tác động qua lại này mà đây lại là bản chất của cơ điện tử. Có nắm bắt được các cơ sở khoa học của các tác động tương hỗ này thì mới phát huy được những tính năng vượt trội mà chỉ sự liên kết các công nghệ mới có được. Tuy nhiên, đây lại là một thách thức lớn cho nghiên cứu vì phải đối mặt với những vấn đề của hệ thống lớn, mang tính phi tuyến, nhiều bất định và thay đổi theo thời gian Mối quan hệ chặt chẽ giữa cơ, điện tử, điều khiển, phần mềm của cơ điện tử dẫn đến những quan hệ phụ thuộc tạo nên những ảnh hưởng đến độ tin cậy và tính ổn định của sản phẩm cơ điện tử. Khảo sát độ phức tạp của các tương tác trong các hệ cơ điện tử đặt ra những bài toán cần phải nghiên cứu như sau:

- Phát triển các phương pháp điều khiển cho các hệ thống có nhiều phần tử phi tuyến như ma sát, trễ, bão hoà,…

- Phát triển các công cụ mô phỏng thời gian thực cho các hệ thống công nghiệp phức tạp.

- Nghiên cứu các phương pháp điều khiển cho các hệ có tham số thay đổi theo thời gian.

- Nghiên cứu các phương pháp thiết kế dự phòng, có độ dôi dư cả về phần cứng, phần mềm để có được sản phẩm cơ điện tử có độ tin cậy và độ bền cao.

Thách thức trong thiết kế các sản phẩm cơ điện tử.

Việc thiết kế các sản phẩm cơ điện tử theo phương pháp liên kết các hệ thống nhỏ đi từ dưới lên (bottom - up) như hiện nay sẽ dần dần không đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng/ giá thành/ thời gian. Việc thiết kế theo hệ thống lớn là một thách thức đối với cơ điện tử. Điều này đòi hỏi các chương trình thiết kế CAD cho các sản phẩm cơ điện tử phải được mở rộng ra nhiều lĩnh vực ( CAD cho cơ + CAD cho điện tử + CAD cho điều khiển…) và xử lý được độ phức tạp cho chương trình thiết kế tổng hợp, khả năng mô hình hoá và mô phỏng hệ thống lớn. Mặt khác các chương trình thiết kế này còn phải đáp ứng được các yêu cầu đa dạng của các ứng dụng của cơ điện tử.

Thách thức đối với sự tin cậy của sản phẩm

Việc tích hợp nhiều công nghệ và chức năng của một sản phẩm đương nhiên sẽ làm giảm độ tin cậy của sản phẩm do độ phức tạp của hệ thống tăng. Ta lấy ví dụ về ô tô, yêu cầu của ô tô là phải hoạt động

Xem chi tiết...

Ý kiến và trao đổi về bài giảng
Mã xác nhận:
 


Chưa có ý kiến về nội dung này.