Đăng Nhập      Đăng ký Quên mật khẩu
Chương Trình Hóa Lớp 12
Câu Hỏi Thường Gặp
Cài Đặt Phần Mềm Hỗ Trợ
Giới Thiệu Gói Bài Học
Hướng Dẫn Học Viên
Thông Tin Người Dùng
Họ tên: Khách viếng thăm
Nickname: guest
Trường: N/A
Quận (huyện): N/A
Tỉnh (Thành phố): N/A
Ngày tham gia: 9/23/2017 11:26:30 PM
Dịch Vụ Hỗ Trợ
Thông Tin về Cadasa
Giới thiệu Chương trình Hóa lớp 12
Bạn cần đăng nhập hệ thống để học hết bài học.
Lệ phí : 6.000 Đồng
Chương 1. Este và Lipit
Bài 2. Lipit
Số phần: 1 phần
Số lần xem tối đa: 6 lần/phần
bai giang hoa hoc 12
Đánh giá bài giảng:

Bài 2: LIPIT - CHẤT BÉO

Tóm tắt nội dung:

-       Định nghĩa lipit để thấy chất béo là thành phần chính và quan trọng của lipit nên ta chỉ cần học chất béo.

-       Cấu tạo, phân loại, trạng thái thiên nhiên và Hóa tính của chất béo.

-       Ứng dụng của chất béo.

-       Chú ý: Chỉ số axit và chỉ số xà phòng hóa của chất béo.


Bài 2: LIPIT - CHẤT BÉO

 Khái niệm, phân loại và trạng thái thiên nhiên

 - Lipit là những hợp chất hữu cơ có trong tế bào động và thực vật, không tan trong nước nhưng tan được trong các dung môi hữu cơ không phân cực như xăng dầu, clorofom, ete…Lipit là những este phức tạp như chất béo, sáp ong, steroit, photpholipit…Ta chỉ học những lipit thuộc loại chất béo.

I. Trạng thái thiên nhiên và lý tính của chất béo:

Chất béo hay dầu mỡ động thực vật là một trong những thành phần cơ bản cấu tạo nên cơ thể giới sinh vật.

  - Chất béo gốc thực vật thường ở thể lỏng nên gọi là dầu như dầu lạc, dầu dừa, dầu ôliu, dầu cám, dầu mè v.v.

  - Chất béo gốc động vật thường ở thể rắn gọi là mỡ như mỡ heo, mỡ bò, mỡ gà ... tuy nhiên nhiều khi chất béo gốc động vật cũng ở thể lỏng, thí dụ như dầu gan cá thu.

Tất cả chất béo đều không tan hay rất ít tan trong nước và nhẹ hơn nước.

II. Thành phần và cấu tạo chất béo 

Để nghiên cứu cấu tạo chất béo, người ta đã tiến hành hai thí nghiệm:

Thí nghiệm 1: Đun chất béo với dung dịch H2SO4 ở áp suất cao ta đã thu được glixerol và các axit béo.

Thí nghiệm 2: Đun glixerol với các axit béo trong môi trường H2SO4 ta thu được sản phẩm tượng tự chất béo. Từ hai thí nghiệm trên ta có thể kết luận chất béo là hỗn hợp các este mà gốc rượu là glixerol, còn các gốc axit là các axit béo no hay chưa no. Thí nghiệm 1 chính là phản ứng thủy phân este, thí nghiệm 2 là phản ứng este hóa. Công thức cấu tạo của các Este đó có dạng:

                                      

Các este cấu tạo thành chất béo có gốc rượu luôn luôn là glixerol, nên các este nầy được gọi chung là các glixerit.còn các gốc axit có thể giống nhau hay khác nhau, có thể no hay chưa no.

       - Nếu R1 = R2 = R3 : ta có glycerit đơn giản.

       - Nếu R1 ¹ R2 ¹ R3 : ta có glycerit phức tạp.

    - Nếu R1, R2, R3 là gốc no thì chất béo ở thể rắn gọi là mở.

    - Nếu R1, R2, R3 là gốc chưa no thì chất béo ở thể lỏng gọi là dầu.

Các axit béo cao no thường gặp là: axit panmitic: C15H31-COOH hay axit stearic C17H35-COOH.

Các axit béo cao không no thường gặp là :

- Axit Olêic: C17H33-COOH  (có một nối đôi).

- Axit Linolêic: C17H31-COOH (có hai nối đôi).

 Tổng số nguyên tử carbon của các axit béo thường là số chẵn ( 16, 18, 12 ...)

 Trong thực tế, cấu tạo của chất béo rất phức tạp vì chất béo luôn luôn là một hỗn hợp gồm nhiều glixerit phức tạp, đơn giản, no, chưa no ... với những tỉ lệ khác nhau. Do đó chất béo lấy ra từ hai nguồn khác nhau thì chắc chắn khác nhau vì thành phần glixerit khác nhau. Thí dụ mỡ ở lòng heo thì khác với mỡ dưới da heo, dầu phụng khác với dầu dừa ... và cho đến nay chưa có nhà bác học nào tạo ra được một chất béo y hệt chất béo thiên nhiên.

III. Hóa tính của chất béo

Vì chất béo là hỗn hợp của este nên phản ứng quan trọng nhất của chất béo là phản ứng thủy phân:

1. Thủy phân chất béo trong môi trường kiềm:(nấu xà phòng)

Cho dung dịch NaOH đậm đặc vào một nồi làm bằng sắt rồi đun nóng, đổ từ từ dầu dừa hay mở bò vào và khuấy thật mạnh và đều, ta thấy trên mặt thóang xuất hiện một lớp váng sền sệt chính là xà phòng, nếu lớp dung dịch bên dưới còn dư NaOH thì ta lại tiếp tục cho thêm dầu mở vào rồi khuấy tiếp; lớp xà phòng dày thêm đến khi dung dịch bên dưới không còn xút thì dừng lại. Đổ thêm dung dịch muối NaCl đậm đặc vào nồi và khuấy mạnh cho xà phòng nổi lên hết, ta gạn xà phòng nóng COONa ở dạng sệt ra thêm chất phụ gia, hương liệu, rồi đổ khuôn khi xà phòng còn nóng. Phần dung dịch có chứa glixerol, phương pháp này cũng có thể dùng để điều chế glixerol.

2. Thủy phân trong môi trường axit:

Đun chất béo với dung dịch H2SO4 đặc trong nồi áp suất cao, ta thu được glixerol và hỗn hợp các axit béo:



3. Sự hydro hóa chất béo lỏng: ( Biến dầu thực vật ra ra bơ, mở thực vật ):

Trong thực tế mở có nhiều ưu điểm so với dầu : mở dễ bảo quản, vận chuyển, có giá trị dinh dưỡng cao hơn, nấu xà phòng có chất lượng tốt hơn nên người ta biến dầu ra mở bằng cách cọng H2 vào chất béo lỏng ( dầu) để được chất béo rắn ( mở).

Thí dụ:

4. Phản ứng oxi hoá: Nói chung các nối đôi trong mạch -C=C- của gốc axit béo và các hợp chất hữu cơ khác dễ bị oxy hoá chậm bởi oxi của không khí thành nhóm epoxi nhóm này bị phân huỷ tạo thành những chất có mùi hôi khó chịu.

IV. Ứng dụng:

Chất béo là thực phẩm của người và gia súc, một số chất béo lỏng làm dung môi để hòa tan thuốc chích, trong cơ thể chất béo có nhiệm vụ che chở các bộ phận quan trọng của cơ thể, làm nguồn dinh dưỡng dự trữ cho cơ thể....

 Chú ý:

Trong chất béo thiên nhiên thì ngoài các glycerit có chứa một lượng nhỏ axit béo tự do. Người ta định nghĩa:

- Chỉ số axit của chất béo là số miligam KOH nguyên chất cần dùng để trung hòa hết các axit béo tự do có trong 1 gam chất béo.

- Chỉ số xà phòng hóa của chất béo là tổng số miligam KOH nguyên chất cần dùng để xà phòng hóa hết các axit béo tự do và các glixerit có trong 1 gam chất béo.


Mời bạn nhấn vào link dưới đây để làm bài kiểm tra:

Bài kiểm tra - Lipit - Đề số 1
Bài kiểm tra - Lipit - Đề số 2
Ý kiến và trao đổi về bài giảng
Mã xác nhận: