Đăng Nhập      Đăng ký Quên mật khẩu
PHƯƠNG PHÁP GIẢI NHANH HÓA HỌC
Câu Hỏi Thường Gặp
Cài Đặt Phần Mềm Hỗ Trợ
Giới Thiệu Gói Bài Học
Hướng Dẫn Học Viên
Thông Tin Người Dùng
Họ tên: Khách viếng thăm
Nickname: guest
Trường: N/A
Quận (huyện): N/A
Tỉnh (Thành phố): N/A
Ngày tham gia: 1/21/2017 10:19:32 PM
Dịch Vụ Hỗ Trợ
Thông Tin về Cadasa
Giới thiệu Phương pháp giải nhanh Hóa Học
Bạn cần đăng nhập hệ thống để học hết bài học.
Lệ phí : 6.000 Đồng
C4. Phương pháp tương đương
Bài 1 Định nghĩa chất tương đương.
Số phần: 2 phần
Số lần xem tối đa: 6 lần/phần
bai giang chuyen de hoa
Đánh giá bài giảng:

Bài 1: Đặt vấn đề - Định nghĩa chất tương đương

Nội dung:

- Điều kiện để chuyễn hỗn hợp thành một chất tương đương:

- Định nghĩa chất tương đương.

- Các phương pháp cacbon trung bình, phân tử lương trung bình, phương pháp công thức chung… là những hệ quả của phương pháp tương đương vì tương đương là một khái niệm tổng quát hàm chứa khái niệm trung bình.

- Một số bài tập áp dụng.

*** Phương pháp tương đương chỉ được áp dụng khi các chất trong hỗn hợp đều tham gia phản ứng với một chất khác và các phản ứng đó phải cùng loại là phản ứng oxi hoá khử hay không oxi hoá khử và hiệu suất các phản ứng phải bằng nhau (tức là cùng tốc độ); không bắt buộc là 100%. Như vậy, ta sẽ không áp dụng phương pháp tương đương khi chưa biết hiệu suất của các phản ứng hay các phản ứng xảy ra không cùng một loại.

*** Phương pháp tương đương không có trong chương trình đại học và trung học v.v… mà chỉ là một phương pháp do chúng tôi đưa ra để “đối phó” với các bài toán hóa học phức tạp, chỉ nhằm minh họa các thuật toán rắc rối, khiến cho bản chất hóa học của bài toán bị phai mờ, làm gia tăng khả năng sai sót và làm giảm tốc độ giải toán hóa học.


Bài 1: Đặt vấn đề- Định nghĩa chất tương đương

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong vật lý học, nhiều hệ thống phức tạp có thể thay thế bằng một vật duy nhất gọi là vật tương đương; nhiều đại lượng biến thiên có thể thay thế bằng giá trị trung bình hay giá trị hiệu dụng làm cho các bài toán vật lý phức tạp trở nên khá đơn giản.

Ví dụ 1: Hệ thống gồm 3 điện trở R1, R2, R3 được mắc song song hay nối tiếp ta có thể thay hệ thống bằng một điện trở R duy nhất gọi là điện trở tương đương được xác định bởi:
R  =  R1  +  R2 + R3  nếu hệ thống được mắc nối tiếp;
nếu hệ được mắc song song.

Ví dụ 2: Dòng điện xoay chiều hình sin: i = Iosin(wt + j) biến thiên “nhấp nhô” dạng hình sin có thể thay thế bằng dòng điện không đổi một chiều có cường độ  gọi là cường độ trung bình hay cường độ hiệu dụng của dòng điện xoay chiều.
Vì vậy trong hóa học, khi một hỗn hợp gồm nhiều chất cùng tác dụng với một chất khác ta vẫn có thể thay thế hỗn hợp bằng một chất duy nhất gọi là chất tương đương. Vấn đề đặt ra là ta phải định nghĩa được “cái gọi là” chất tương đương một cách chính xác và phù hợp với kết quả thực nghiệm, rồi dựa vào định nghĩa đó và các phương trình phản ứng hóa học, ta phải thiết lập được hệ thức giữa các thông số của chất tương đương với các thông số của các chất thành phần có trong hỗn hợp; và các hệ thức này phải giúp ta nhanh chóng tìm ra các kết quả của bài toán hỗn hợp phức tạp.
Sau khi đã nghiên cứu hàng trăm bài toán hỗn hợp phức tạp và các khái niệm về các giá trị trung bình vào năm học 1992, chúng tôi đã tổng kết và mạnh dạn đưa ra phương pháp tương đương với định nghĩa chất tương đương.
II. ĐỊNH NGHĨA CHẤT TƯƠNG
Một hỗn hợp gồm nhiều chất cùng tác dụng với một chất khác thì ta có thể thay thế hỗn hợp bằng một chất duy nhất gọi là chất tương đương chứa đầy đủ các nguyên tố có trong hỗn hợp và thỏa mãn các điều kiện:
-  Các phản ứng xảy ra phải cùng loại và cùng hiệu suất.
-  Số mol, khối lượng, hay thể tích của chất tương đương phải bằng số mol, khối lượng hay thể tích của toàn hỗn hợp.
- Các kết quả phản ứng của chất tương đương (với chất khác) phải y hệt như các kết quả phản ứng của toàn hỗn hợp.

Nhận xét định nghĩa:
Phương pháp tương đương chỉ được áp dụng khi các chất trong hỗn hợp đều tham gia phản ứng với một chất khác và các phản ứng đó phải cùng loại là phản ứng oxi hoá khử hay không oxi hoá khử và hiệu suất các phản ứng phải bằng nhau (tức là cùng tốc độ); không bắt buộc là 100%. Như vậy, ta sẽ không áp dụng phương pháp tương đương khi chưa biết hiệu suất của các phản ứng hay các phản ứng xảy ra không cùng một loại.


Ví dụ 1:
Cho hỗn hợp gồm Ca, CaO, CaC2 tác dụng hoàn toàn với H2O.
Ví dụ 2:
Cho hỗn hợp 3 rượu đơn chức tham gia phản ứng ester hoá với axit axêtic và bài toán yêu cầu ta tính hiệu suất phản ứng của mỗi rượu.
Ví dụ 3: Cho hỗn hợp Fe, Mg, Cu tác dụng với dung dịch HCl với hiệu suất phản ứng 100%.
Cả ba ví dụ trên đều không thể áp dụng phương pháp tương đương vì
- Ví dụ 1 thì các phản ứng xảy cùng hiệu suất nhưng không cùng một loại.

- Ví dụ 2 thì các phản ứng xảy ra cùng loại nhưng không biết các hiệu suất có bằng nhau hay không?
- Ví dụ 3 thì ba kim loại Fe, Mg và Cu không cùng tác dụng với HCl (chỉ có Mg, Fe tham gia phản ứng còn Cu không phản ứng với HCl).        


Bài tập 1

Câu 1. Chọn các giả thiết của bài toán áp dụng được phương pháp tương đương:
A. Cho hỗn hợp X gồm Fe, Fe2O3, Mg tan hoàn toàn trong dung dịch HCl.

B. Cho hỗn hợp Y gồm C2H2, C3H6 và H2 đi qua Ni nung nóng, khi phản ứng xảy ra hoàn toàn ta
thu được hỗn hợp Y. Cho Y đi qua dung dịch Brom ta thấy dung dịch Br bị nhạt màu.
C. Este hóa glixerol với hỗn hợp X gồm ba axit đơn chức (R1COOH, R2-COOH, R3 –COOH) ta
thu được glixerit có ba nhóm chức este.
D. Hỗn hợp X gồm HCOOH và CH3COOH tham gia phản ứng với dung dịch Ag2O trong NH3 dư.


Mời các bạn xem video bài giải ở Tab Bài giảng
Bài tập 2

Câu 2. Các giả thiết của bài toán nào không thể áp dụng phương pháp tương đương:
A. Đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp gồm C2H6O và C2H4O2

B. Hỗn hợp gồm anken X và ankin Y tác dụng với dung dịch Br2 dư.

C. Hỗn hợp X gồm 2 ankanol phản ứng este hóa hòan toàn với hỗn hợp Y gồm hai axit hữu cơ no đơn chức phản ứng xảy ra hoàn toàn và vừa đủ.

D. Hỗn hợp gồm Fe, Fe2O3 , FeO, Fe3O4 tan hoàn toàn trong dung dịch HNO3 dư nung nóng.


Mời các bạn xem video bài giải ở Tab Bài giảng
Bài tập 3

Chú ý quan trọng

1. Hiện nay có nhiều độc giả đã cố tình “bóp méo” phương pháp tương đương (rất chính xác và tổng quát) và sửa lại là “phương pháp công thức chung”, phương pháp trung bình ... đó chỉ là những hệ quả của phương pháp tương đương.

2. Có nhiều độc giả lại cho rằng không thể tồn tại chất tương đương. Chúng tôi xin trả lời chung: “Chất tương đương chính là “chất hỗn hợp” nên trong phân tử chất tương đương thì số mol nguyên tử của các nguyên tố thường là số không nguyên. Nếu là số không nguyên thì ta có thể nâng tỉ lệ để thành số nguyên.

Ví dụ: 1,5 : 1,2 : 0,6 : 5 : 4 : 2

3. Phương pháp tương đương không có trong chương trình đại học và trung học v.v… mà chỉ là một phương pháp do chúng tôi đưa ra để “đối phó” với các bài toán hóa học phức tạp, chỉ nhằm minh họa các thuật toán rắc rối, khiến cho bản chất hóa học của bài toán bị phai mờ, làm gia tăng khả năng sai sót và làm giảm tốc độ giải toán hóa học.


Mời các bạn xem video bài giải ở Tab Bài giảng
Ý kiến và trao đổi về bài giảng
Mã xác nhận: